Việt Nam - Philippines Bắt Tay: Tham Vọng Biển Đông Của Trung Quốc Sụp Đổ?

Góc Nhìn Lê Minh
705 Người theo dõi
Thưa quý vị, như chúng ta đã biết, sau hụt việc tàu Trung Quốc tấn công tàu cá ngư dân Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa hôm 29 tháng 9,
phía Việt Nam đã đưa ra những tuyên bố phản đối gây gắt của mình về hành động tàn bạo của phía Trung Quốc.
Diễn biến tiếp theo sau đó là việc Trung Quốc công bố đoạn video mà họ cho rằng ngư dân Việt Nam đã tấn công họ và rằng hành động của họ chỉ là tự vệ mà thôi.
Khi chúng tôi nghiên cứu phiên bản đầy đủ của video mà Trung Quốc công bố thì thấy rằng,
Bắc Kinh có một tàu lớn hộ tống cho hai tàu nhỏ thực hiện áp sát, sau đó lao vào tàu cá của ngư dân Việt Nam.
Tàu cá của ngư dân Việt Nam đã phòng vệ bằng những công cụ thô sơ gồm sao che để xua đuổi.
Trong khi đó thì phía Bắc Kinh đã mang cả gậy gọc, ống tuyếp để tràn vào tàu cá của ngư dân Việt Nam.
Có một điều rất lạ là video mà họ công bố không có cảnh họ tiến hành đánh đập bị thương 10 ngư dân Việt Nam,
cũng không có đoạn phía ngư dân Việt Nam cầu xin.
Điều này cho thấy độ khả tín của video này là không cao.
Tức là họ đã chọn lọc và cắt cảnh trong một video dài để từ đó cáo buộc ngược lại phía Việt Nam tấn công họ, khiến 3 người Trung Quốc bị thương.
Nếu theo suy luận thông thường, chúng ta sẽ thấy nếu là ngư dân Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc
thì liệu rằng họ có thể thực hiện hành động đó khi chỉ có một mình không?
Còn đối phương lại có tận một tàu lớn iểm hộ cho 2 tàu nhỏ vây hãm.
Hơn nữa, nếu ngư dân Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc thì họ sẽ dùng vũ khí là xào che hay sao?
Đây chính là những sờ hở trong lập luận mà khi phía Trung Quốc công bố những video và tung cáo buộc về phía Việt Nam.
Điều đó khiến cho hầu hết cộng đồng quốc tế, vốn ở ngoài quốc với vai trò là quan sát,
đều nghi ngờ tính xác thực và độ khả tín của thông tin mà Trung Quốc công bố.
Nhìn vào bản đồ này, chúng ta sẽ thấy địa điểm xảy ra vụ việc được khoanh tròn đỏ.
Sau đó nhìn vào bản đồ đánh dấu danh giới thuộc đường 10 đoạn mà phía Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền
để thấy Trung Quốc coi những vùng biển thuộc đường lưỡi bò là danh giới hàng hải của mình.
Vậy nên họ cho rằng ngư dân Việt Nam đã xâm nhập vào lãnh hải của họ,
do đó họ được phép truy đuổi và tấn công.
Đây là lập luận cho thấy chiến lược vùng sám mà họ đã thực hiện trong nhiều năm
là cơ sở để hôm nay họ thực hiện hành động thô bạo.
Chúng ta cũng biết, quần đảo Hoàng Sa, nơi xảy ra vụ tấn công ngư dân Việt Nam,
được cả Việt Nam và Trung Quốc tuyên bố chủ quyền,
nhưng mà chúng đã nằm dưới sự kiểm soát trên thực địa của Bắc Kinh kể từ năm 1974.
Thế nhưng theo công ngước Liên Hợp Quốc về Luật Biển UNCLOS,
các quốc gia ven biển có quyền thiết lập vùng đặc quyền kinh tế EEZ
trải dài 200 hải lý tính từ bờ biển của họ,
trong đó họ có quyền độc quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả nghề cá.
Thì nơi xảy ra vụ việc vẫn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam,
mà vùng này lại trông lấn với một số phần của quần đảo Hoàng Sa
mà Trung Quốc tuyên bố chiếm đóng là chủ quyền của mình.
Chính vì vậy mà nơi đây đã trở thành khu vực tranh chấp.
Trên thực tế, sự hiện diện và hành động của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa
đã làm phức tạp thêm tình hình, đặc biệt là các cuộc tấn công ngư dân thường xuyên
như vụ việc ngày 29 tháng 9.
Việt Nam đã nhiều lần kêu gọi tuân thủ công ngước Liên Hợp Quốc về luật biển,
nhưng Trung Quốc vốn phớt lờ hết thảy các công ngước quốc tế
và chỉ tuân theo luật lệ mà họ tự biên tự diễn.
Cho nên công ngước quốc tế về luật biển thì không có giá trị pháp lý đối với Bắc Kinh.
Hành động tan bạo từ lực lượng hàng hải Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam
không phải là trường hợp duy nhất.
Họ cũng áp dụng chiêu này với tất cả các quốc gia đã tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông,
trong đó có cả Philippines.
Đó là lý do mà phía Philippines tuyên bố đoàn kết với Việt Nam để chống lại Trung Quốc.
Đáng cười nhất là cơ quan ngôn luận của Trung Quốc, Hoàn Cầu Thời báo,
lại đăng tải một báo cáo theo kiểu là
Philippines chẳng liên quan gì đến việc này cả.
Trung Quốc lo ngại về việc Philippines thể hiện sự đoàn kết với Việt Nam
vì điều này đe dọa chiến lược rộng lớn hơn của họ
là quản lý các tranh chấp khu vực theo hướng song phương,
khiến các bên yêu sách đối địch bị cô lậm.
Tranh chấp Biển Đông liên quan đến nhiều quốc gia và Trung Quốc thích là giải quyết riêng rẽ với từng quốc gia,
nơi mà họ có thể tận dụng sự thống trị về kinh tế và quân sự của mình.
Nói cách khác là chiến thuật chia đề trị.
Nếu có một mặt trận thống nhất giữa các quốc gia Đông Nam Á,
đặc biệt là Việt Nam và Philippines, vốn là hai nước có tranh chấp với Trung Quốc,
thì rõ ràng điều đó có thể thách thức ảnh hưởng của Bắc Kinh
và làm phức tạp thêm sự kiểm soát của nước này đối với khu vực.
Philippines liên kết với Việt Nam cũng làm tăng thêm sức mạnh cho sự phản kháng tập thể của họ
đối với sự quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông.
Cả hai quốc gia đều có lịch sử xung đột với Trung Quốc về quyền hàng hải,
và nếu hai bên hình thành lập trường hợp tác,
điều này có thể thu hút các thành viên ASEAN khác hoặc các cường quốc bên ngoài như Hoa Kỳ
dẫn đến một sự phản đối rộng rãi hơn cho khu vực đối với các hành động của Trung Quốc.
Đây là lý do tại sao Bắc Kinh hạ thấp sự tham gia của Manila,
nhằm ngăn chặn sự phát triển của một phe đối lập gắn kết và có tổ chức hơn.
Hơn nữa, Philippines đã tăng cường quan hệ quân sự với Hoa Kỳ
thông qua các liên minh và thỏa thuận quốc phòng.
Điều này đã gây lo ngại cho Trung Quốc.
Bất kỳ sự hợp tác nào giữa Philippines và các quốc gia khác như Việt Nam
có thể làm tăng sự tham gia của Hoa Kỳ vào khu vực hơn nữa.
Nhìn trên bản đồ, chúng ta có thể thấy Việt Nam và Philippines
nằm ở hai bên đối diện của biển Đông, tạo ra một rào cản tự nhiên.
Philippines kiểm soát lối vào phía Đông qua các đảo của mình,
trong khi Việt Nam kiểm soát lối vào phía Tây dọc theo bờ biển dài của mình.
Vị trí này mang lại cho cả hai quốc gia đòn bầy đối với các tuyến đường biển quan trọng,
có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động thương mại và nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc,
khiến Bắc Kinh khó có thể tự do triển khai sức mạnh hải quân trên khắp khu vực.
Nếu hai quốc gia hợp tác, họ có thể cùng nhau thách thức quyền tiếp cận
các tuyến đường biển của Trung Quốc.
Cả Việt Nam và Philippines đều nằm gần các tuyến đường biển quan trọng
mà một phần đáng kể năng lượng nhập khẩu và hàng hóa thương mại của Trung Quốc đi qua.
Bất kỳ hành động quân sự nào từ các quốc gia này hoặc các đồng minh của họ
đều có thể phá vỡ các tuyến đường tiếp tế của Bắc Kinh.
Ví dụ, việc kiểm soát quần đảo Trường Sa,
mà cả hai quốc gia và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền,
sẽ cho phép giám sát và thậm chí là phong tỏa các tuyến đường chính này
gây ra mối đe dọa trực tiếp đến an ninh kinh tế của Trung Quốc.
Hơn nữa, cả Việt Nam và Philippines đều đã tăng cường quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ,
đặc biệt là để ứng phó với sự quyết đoán của Trung Quốc.
Philippines, với các thỏa thuận quốc phòng như hiệp ước phòng thủ chung
và thỏa thuận quốc phòng tăng cường EDCA,
cho phép lực lượng Hoa Kỳ tiếp cận các căn cứ gần Biển Đông.
Nếu Việt Nam và Philippines hình thành một mặt trận thống nhất
với sự hậu thuẫn của quân đội Hoa Kỳ,
thì điều này sẽ làm tăng áp lực đáng kể lên Trung Quốc,
buộc nước này phải đối phó với một mạng lưỡi phòng thủ khu vực
có khả năng mạnh hơn và được phối hợp chặt chẽ hơn.
Nói thẳng ra, chỉ cần Việt Nam và Philippines bắt tay nhỏ,
thì sẽ hình thành một thế chất đông Tây
và sẽ thành một đường cắt ngang lưỡi bò mà Trung Quốc tuyên bố.
Những điều này tạo ra những thách thức quân sự đáng kể cho Bắc Kinh,
do đó không khó hiểu khi Trung Quốc một mực để Philippines
ở bên ngoài cuộc đụng độ giữa lực lượng hàng hải Trung Quốc và ngư dân Việt Nam.
Có một vấn đề thế này,
Trung Quốc muốn thách thức vị thế của Mỹ,
họ muốn lật đổ vai trò lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ.
Thế nhưng họ lại thi hành một chiến thuật kỳ lạ,
nó thể hiện rất rõ về lỗ hổng tư duy chiến lược.
Tại sao lại nói như vậy?
Về mặt chiến lược, chúng ta luôn hiểu rằng
hàng xóm tốt tạo nên hàng rào tốt,
láng giềng tốt đồng nghĩa an ninh biên giới sẽ tốt.
Thế nhưng mà Trung Quốc lại là một quốc gia có số lượng tranh chấp lãnh thổ cao nhất
với các nước láng giềng trên đất liền và cả trên biển.
Ví dụ với Ấn Độ,
Trung Quốc có một trong những tranh chấp lãnh thổ lâu đời nhất trên thế giới,
vẫn chưa được giải quyết.
Trung Quốc không nằm trong danh sách tốt đẹp của nhiều quốc gia.
Theo một cuộc khảo sát của Trung tâm nghiên cứu Pew năm 2023,
trung bình 6-7% người trưởng thành ở 24 quốc gia
bày tỏ quan điểm không hài lòng về Trung Quốc.
Trung bình 71% người cho rằng
Trung Quốc không đóng góp vào hòa bình và ổn định toàn cầu.
Không chỉ vậy,
Trung bình 76% người cho rằng
Trung Quốc không tính đến lợi ích của các quốc gia khác
trong chính sách đối ngoại của mình.
Và có tới 5-7% người nói rằng
Trung Quốc can thiệp rất nhiều vào công việc của các quốc gia khác.
Quý vị biết đấy,
Bắc Kinh đã rót hàng tỷ USD
cho phát triển cơ sở hạ tầng vào các quốc gia trong và ngoài khu vực,
mục đích là thiết lập một quyền lực mềm ở đây.
Tuy nhiên, những gì mà họ đang thực hiện một lần nữa
khiến cho chính các quốc gia có nguồn đầu tư từ Trung Quốc
phải lo ngại về việc mình sẽ bị khuất phục bởi chính quyền Bắc Kinh.
Điều này thách thức mạnh mẽ đến mệnh lệnh
mà Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
đã chỉ thị về việc kể tốt câu chuyện của Trung Quốc.
Nói cách khác là mô tả những điều tốt đẹp
về một Trung Quốc trong mắt cộng đồng quốc tế.
Hình ảnh về một cường quốc đứng thứ 2 thế giới
nhưng ô ép, bắt nạt, thậm chí là dùng cường quyền
để uy hiếp các quốc gia nhỏ ở khu vực
càng cho thế giới thấy được việc Trung Quốc mà làm lãnh đạo toàn cầu
thì nó sẽ phổ cập một đế chế cường quyền trên toàn thế giới.
Do đó, những gì mà Bắc Kinh đang làm ở Biển Đông
càng làm xấu đi hình ảnh ngoại giao của họ.
Nó cũng làm cho việc đoàn kết chống lại Trung Quốc trở thành một phong trào.
Nhìn thấy những rủi ro từ Trung Quốc sau Philippines và Việt Nam
là hành động của Malaysia.
Malaysia thúc đẩy xây dựng căn cứ hải quân mới ở Sarawak
Thưa quý vị, tờ Channel New Asia ngày 7 tháng 10
đăng tải một bài báo có tiêu đề
Để mắt tới Trung Quốc, Malaysia thúc đẩy xây dựng
căn cứ hải quân mới ở Sarawak.
Quyết định của Malaysia xây dựng một căn cứ hải quân mới tại Sarawak,
đặc biệt là ở Bintulu, mang lại những hàm ý chiến lược
và địa chính trị quan trọng cho khu vực,
đặc biệt là trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông
và an ninh Đông Nam Á nói chung.
Sarawak nằm trên đảo Borneo, giáp Biển Đông,
một tuyến đường thủy quan trọng và đang có tranh chấp.
Bằng cách thiết lập một căn cứ hải quân tại đây,
Malaysia đặt mục tiêu tăng cường năng lực an ninh hàng hải
và giám sát tại khu vực này.
Nó sẽ cung cấp khả năng tiếp cận và ứng phó tốt hơn
để bảo vệ vùng biển và lãnh thổ của mình,
đặc biệt là với những lo ngại ngày càng tăng
về đánh bắt cá bất hợp pháp, cướp biển
và xâm phạm từ các tàu đâng ngoài,
bao gồm cả tàu Trung Quốc.
Sarawak là nơi có các mỏ dầu khí ngoài khơi quan trọng,
đặc biệt là gần Bintulu,
nơi công ty nhà nước Petronas của Malaysia hoạt động.
Các nguồn tài nguyên này rất quan trọng
đối với nền kinh tế của Malaysia,
đương nhiên với cả Trung Quốc,
vốn nhập khẩu năng lượng lớn nhất thế giới.
Cho nên nó làm gia tăng khả năng Bắc Kinh
sẽ thò vòi bạch tuộc vào đây.
Khi Malaysia xây dựng căn cứ quân sự mới tại đây,
đồng nghĩa là làm tăng sự hiện diện mạnh mẽ của hải quân
và sẽ giúp bảo vệ các tài sản năng lượng này,
đặc biệt là khỏi các mối đe dọa bên ngoài
hoặc tranh chấp về danh giới hàng hải.
Biển Đông là nơi tranh chấp của nhiều quốc gia
và Malaysia cũng có các yêu sách trùng chéo với Trung Quốc.
Bằng cách tăng cường sự hiện diện của hải quân,
Malaysia đang gửi đi tín hiệu rằng
họ nghiêm túc trong việc bảo vệ các yêu sách
và lợi ích của mình ở khu vực chiến lược này.
Một thế trận quân sự mạnh mẽ hơn
có thể đóng vai trò răn đe
đối với sự quyết đoán trên biển của Trung Quốc.
Hơn nữa, căn cứ hải quân
cũng có thể tăng cường vai trò của Malaysia
trong hợp tác an ninh khu vực,
đặc biệt là với các nước láng giềng ASEAN.
Nó có thể cung cấp một nền tảng
cho các cuộc tập trận và hợp tác hải quân chung
tăng cường các nỗ lực đa phương
để đảm bảo tự do hàng hải và ôn định khu vực.
Nhìn chung thì căn cứ hải quân ở Sarawak
sẽ củng cố khả năng bảo vệ lợi ích lãnh thổ
và nền kinh tế của Malaysia,
nâng cao năng lực ứng phó
và có khả năng tăng cường quan hệ đối tác an ninh khu vực
trước những thách thức ngày càng gia tăng ở Biển Đông.
Đối với Trung Quốc mà nói,
họ thực sự có thể cảm thấy lo ngại
về quyết định của Malaysia.
Vì từ trước, Malaysia theo truyền thống
vẫn giữ lập trường trung lập
và tìm cách cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc.
Bây giờ, họ lại thúc đẩy
việc thành lập một căn cứ hải quân.
Nó sẽ mang lại một số tác động tiềm tàng
và có thể khiến Bắc Kinh lo lắng.
Vì căn cứ ở Bintulu
sẽ tăng cường đáng kể năng lực hải quân của Malaysia
tại khu vực mà Trung Quốc đang khẳng định
các yêu sách của mình.
Bất kỳ hoạt động quân sự gia tăng nào
từ các khu giao ven biển như là Malaysia ở Biển Đông,
đặc biệt là liên quan đến các khu vực tranh chấp,
đều có thể được coi là thách thức
đối với sự hiện diện quân sự thống trị của Bắc Kinh.
Khả năng giám sát và phản ứng của Malaysia
đối với các tàu Trung Quốc
ở vùng biển tranh chấp sẽ tăng lên,
có khả năng dẫn đến nhiều cuộc đối đầu trực tiếp hơn.
Trung Quốc có thể lo ngại rằng
năng lực quân sự gia tăng của Malaysia
có thể dẫn đến hợp tác an ninh chặt chẽ hơn
với các quốc gia Đông Nam Á khác
như là Việt Nam và Philippines.
Những quốc gia cũng có tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông.
Nếu Malaysia sử dụng căn cứ này
để tham gia tuần tra chung hoặc tập trận
với các quốc gia này
hoặc các cương quốc bên ngoài khác như là Hoa Kỳ,
điều này có thể tạo ra sự cân bằng khu vực mạnh mẽ hơn
đối với tham vọng của Bắc Kinh trong khu vực.
Điều lạ là
Trung Quốc không vội phản ứng ngay lập tức
một cách công khai trước động thái của Malaysia.
Vì Malaysia và Trung Quốc
có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ,
Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Malaysia.
Một phản ứng tức thời hoặc hung hăng
có thể gây nguy hiểm cho mối quan hệ này.
Trung Quốc có thể muốn duy trì lập trường trung lập công khai
trong khi đánh giá ý định của Malaysia,
tránh các hành động có thể gây căng thẳng
trong mối quan hệ song phương tích cực nói chung.
Bắc Kinh có thể nhận ra
chính sách đối ngoại tinh tế của Malaysia
và mong muốn cân bằng quan hệ
với cả phương Tề và Trung Quốc.
Do đó, một cuộc đối đầu trực tiếp
có thể không phù hợp với lợi ích lâu dài
của Trung Quốc.
Trung Quốc thường sử dụng sự kiên nhẫn chiến lược
trong chính sách đối ngoại của mình.
Thay vì phản ứng bốc đồng,
Bắc Kinh có thể dành thời gian để đánh giá cách
căn cứ hải quân này thực sự sẽ được sử dụng
và liệu nó có thể gây ra mối đe dọa trực tiếp
đến các yêu sách của họ ở Biển Đông hay không.
Nếu căn cứ này tập trung nhiều hơn
vào quốc phòng trong nước của Malaysia,
Trung Quốc có thể thấy ít lý do để lo ngại hơn.
Bắc Kinh có thể đang chờ xem
liệu các hoạt động hải quân của Malaysia
có tăng lên hay không,
hoặc liệu quốc gia này có bắt đầu hợp tác chặt chẽ hơn
với các sáng kiến do Hoa Kỳ
dẫn đầu trong khu vực hay không
trước khi đưa ra phản ứng công khai.
Quan trọng hơn là Trung Quốc có thể không muốn
leo thang căng thẳng ở Đông Nam Á,
nơi mà họ đang phải đối mặt với sự phản kháng
từ các bên yêu sách khác ở Biển Đông như Việt Nam và Philippines.
Một phản ứng mạnh mẽ có thể dẫn đến
sự đoàn kết hơn nữa trong khu vực
chống lại Trung Quốc.
Đặc biệt nếu các quốc gia ASEAN khác
coi căn cứ của Malaysia
là một bước tiến để bảo vệ chủ quyền
khỏi các yêu sách hàng hải của Trung Quốc.
Bằng cách giữ im lặng
hoặc kín tiếng, Trung Quốc có thể tránh
đẩy các thành viên ASEAN gần hơn
với các sáng kiến an ninh do Hoa Kỳ
hoặc liên minh bộ tứ lãnh đạo.
Nhìn chung,
Malaysia trong lịch sử vẫn duy trì mối quan hệ
thực dụng và không đối đầu với Trung Quốc,
đặc biệt là trái ngược với các quốc gia
có tiếng nói hơn như Việt Nam hoặc Philippines.
Trung Quốc có thể đang theo dõi chặt chẽ
sự phát triển của căn cứ và ý định
của Malaysia, đặc biệt là về việc
liệu Malaysia có tìm cách
liên kết chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ
hoặc các liên minh quân sự khu vực
chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc hay không.
Thủ thực, ở thời kỳ này,
rất khó để cho các quốc gia thực hiện
chính sách ngoại giao ba phải.
Malaysia không thể bàng quan trước Trung Quốc.
Nếu họ lựa chọn im lặng và đứng ngoài câu chuyện Biển Đông
để phát triển kinh tế, thì họ sẽ phải
đối diện với đe dọa an ninh chủ quyền lãnh thổ.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử
của Malaysia và Trung Quốc,
họ có mối quan hệ phức tạp,
bao gồm cả hợp tác và căng thẳng.
Lịch sử đã ghi nhận về làn sóng di cư của người Hoa
đến Malaysia có từ thời kỳ thuộc địa
khi chế độ thực dân Anh khuyến khích
dòng người lao động Trung Quốc đổ vào,
làm việc trong các mỏ thiết và đồ điển cao su.
Điều này dẫn đến sự hình thành
các cộng đồng người Hoa đáng kể ở Malaysia,
đôi khi tạo ra căng thẳng sắc tộc
đối với người Malai bản địa.
Sau khi Malaysia giành được độc lập vào năm 1957,
đã có những nỗ lực thúc đẩy
các cộng đồng người Hoa ra biên lề,
dẫn đến căng thẳng xã hội và chính trị.
Trong thời kỳ tình trạng khẩn cấp của Malay,
nhiều người trong số họ là người Hoa
đã bị lực lượng thực dân Anh
và sau đó là chính phủ Malaysia chống lại.
Cuộc xung đột này làm ra tăng sự nghi ngờ
và căng thẳng giữa chính phủ Malaysia
và cộng đồng người Hoa.
Sự kiện ngày 13 tháng 5 năm 1969
là một cuộc bạo loạn chủng tộc đáng kể ở Malaysia,
dẫn đến bạo lực lan rộng
giữa người Malay và người Hoa.
Các cuộc bạo loạn một phần là do
sự tranh lệch kinh tế
và các vấn đề đại diện chính trị
dẫn đến những tác động chính trị xã hội lâu dài
trong các chính sách của Malaysia
liên quan đến chủng tộc và dân tộc.
Trong thời hiện đại,
Biển Đông đã nổi lên như là một khu vực tranh chấp đáng kể.
Trong khi Malaysia tuyên bố chủ quyền một số vùng biển,
các tuyên bố và hành động quyết đoán của Trung Quốc
bao gồm việc xây dựng các đảo nhân tạo
và quân sự hóa một số khu vực
đã dẫn đến căng thẳng.
Malaysia đã tìm cách khẳng định các tuyên bố của mình
mà không gây ra xung đột trực tiếp với Bắc Kinh
nhưng đôi khi phải đối mặt
với những thách thức liên quan đến quyền đánh bắt cá
và thăm dò dầu khí.
Trong khi Malaysia được hưởng lợi về mặt kinh tế
từ mối quan hệ với Trung Quốc,
bao gồm đầu tư vào thương mại,
vẫn có những lo ngại về việc phụ thuộc quá mức vào đầu tư của Bắc Kinh.
Sự phụ thuộc về kinh tế này
đã đặt ra câu hỏi về chủ quyền
và quyền kiểm soát của Malaysia
đối với các nguyên lực kinh tế của mình
dẫn đến sự hoài nghi trong một số phe phái chính trị
ở Malaysia.
Nói như vậy để thấy,
trong khi cả hai nước đều tìm cách duy trì
mối quan hệ hợp tác,
những căng thẳng tiềm mẩn vẫn tồn tại do xung đột lịch sử
và các cân nhắc chiến lược hiện đại.
Bản thân trong nội bộ chính khách
của Malaysia vẫn luôn tồn tại
những đề phòng và dè chừng.
Cho nên rất có thể khi Biển Đông rơi vào vòng xoáy
căng thẳng tranh chấp lãnh hải,
Malaysia sẽ không thể đứng ngoài cuộc được nữa
bởi hiểm họa đang dình dập ngay vùng đặc quyền
kinh tế của họ.
Những bước tiến của tình hình Biển Đông
đang theo chiều hướng gia tăng những căng thẳng.
Một bên thì gia tăng hành động quyết đoán
để khẳng định tham vọc chiếm đoạt gần như toàn bộ Biển Đông.
Một bên là các nước nhỏ
đang có những cách riêng để bảo vệ lợi ích hàng hải của mình.
Tất cả đang hình thành lên một bức tranh
cho thấy khu vực Đông Nam Á
đang khởi động những chính sách đối phó với Trung Quốc.
Đứng đầu đang là Nhật Bản, Philippines
và Việt Nam.
Liệu còn các quốc gia nào tiếp theo sẽ đứng lên
và liệu họ có lựa chọn bắt tay nhau
để hình thành một liên minh hay không?
Chúng ta sẽ tiếp tục theo dõi.
Tôi làm thuyền trưởng hơn 10 năm
và chạm với Trung Quốc nhiều lần
nhưng lần này thấy họ rất bạo lực
dùng gậy sắt đánh người dã man.
Thuyền trưởng Nguyễn Thanh Biên, 40 tuổi
thôn Châu Thuận Biển
xã Bình Châu, viện Bình Sơn nói
sau 4 ngày bị đánh
lưng anh Biên còn 2 vết bầm dài
ở vị trí gần phổi, khó thở
đang điều trị ở Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi.
Anh Nguyễn Thanh Biên, ngụ thôn Châu Thuận Biển
xã Bình Châu, thuyền trưởng tàu cá
Quy Ngờ 95739TS
vào ngày 2 tháng 10 cho biết
nói chung tính trang thiết bị gồm
máy móc, ngư cụ và máy tấn cá
thì sơ sơ thiệt hại hết
500-600 triệu đồng.
Vâng, những câu chuyện này
có vẻ cũng đã rất quen thuộc
với quý vị rồi đúng không ạ?
Hôm nay thì chúng ta sẽ cùng nghe các ngư dân Quảng Ngãi
kể lại câu chuyện kinh hoàng
mà họ vừa trải qua trên Biển Đông
khi bị tàu Trung Quốc tấn công
và đánh đập.
Anh Biên cùng 9 bạn thuyền xuất bến
từ cảng Sa Kỳ ngày 13 tháng 9
ra Hoàng Sa đánh bắt hải sản.
Sau một ngày, thuyền tới ngư trưởng.
Thời gian này biển khá êm,
ngư dân phân công nhiệm vụ,
chia nhau ra các thúng làm nghề lặn và câu.
Sau nửa tháng, được 4 tấn cá.
Khoảng 6 giờ ngày 29 tháng 9,
khi tàu cách đảo Chim Yến gần 15 hải lý,
khoảng 28 km,
anh Biên phát hiện tàu sắt chạy
với tốc độ cao hướng về tàu mình.
Sau một giờ rượt đuổi, tàu sắt bắt kịp tàu cá.
Lúc này ngư dân mới nhìn rõ
tàu đang rượt đuổi mang số hiệu
301 của Trung Quốc.
Khi áp sát tàu ngư dân,
tàu sắt 301 thả hai cano chạy
hai bên sườn tàu cá,
còn tàu sắt vượt lên trước mũi tàu mục tiêu
để truy cản.
Mỗi khi bị tàu lớn chặn đường,
thuyền trưởng Biên lại lái tàu lách đi hướng khác.
Tàu khác mang số hiệu 101
được điều động phối hợp tàu 301
vây ráp tàu cá ngư dân.
Tàu 101 thả thêm một cano tạo vòng vây
bám sát và cản đường.
Ở trên tàu cá,
các ngư dân phân công nhiệm vụ để thoát khỏi cuộc truy đuổi.
Ông Huỳnh Tiến Công,
47 tuổi, ở bên mạng trái,
còn anh Nguyễn Thương, 34 tuổi,
ở bên mạng phải tàu,
đóng vai trò quan sát hướng của cano
và tàu Trung Quốc để chỉ hướng cho
thuyền trưởng Biên lái.
Sau hơn một giờ giật đuổi,
khoảng 9 giờ,
gần 40 người trên tàu giật đuổi
dùng cây móc vào tàu cá để khống chế,
treo lên mạng trái tàu.
Anh Công đứng quan sát ở đây,
bị họ dùng gậy sắt đánh tới tấp,
khiến tay chân bị gãy.
Họ lao ra đánh sối sả vào tay
chân tôi bằng gậy sắt dài khoảng 1 mét.
Tôi chỉ biết chịu trận.
Anh Công nhớ lại.
Thấy đồng nghiệp bị đánh quá nặng,
anh Võ Văn Thi, 44 tuổi, ở Khánh Hòa,
ôm lấy anh Công để đỡ đòn,
nên bị đánh bầm tím lưng và đuổi.
Sau đó,
nhóm người Trung Quốc xông vào đập phá cabin,
dùng gậy phang tới tấp vào vai và lưng,
khiến thuyền trưởng Biên bất tỉnh.
Ở phía mạng phải tàu,
người dân Nguyễn Thương cùng những người còn lại
bị dồn tới mũi tàu.
Dù mọi người không có vật dụng gì,
tay dơ che chắn đầu,
cũng bị nhóm người cầm hung khí đánh tới tấp.
Thấy thuyền trưởng bị ngất xỉu trong cabin,
anh Thương quỳ xin được hô hấp,
nhưng nhóm người truy đuổi không cho.
Lực lượng truy đuổi sau đó
dùng tấm bạc đậy cá để chùm đầu các ngư dân,
nhằm không cho họ thấy diễn biến.
Chùm đầu xong,
họ cho nhân viên y tế bắt mạch thuyền trưởng,
rồi cho phép anh Thương cùng một người khác
khiêng anh Biên ra phía sau hô hấp.
Trong thời gian đó,
phía Trung Quốc tịch thu ngư cụ
và hơn 4 tấn cá thuyền viên đánh bắt được,
với tổng giá trị hơn 310 triệu đồng.
Họ không để lại gì ngoài một bộ định vị
để chúng tôi có thể về bờ,
anh Thương kể.
Đến 13 giờ,
sau khi hoàn thành lục soát và tịch thu nhiều tài sản,
phía Trung Quốc cho thông dịch viên
yêu cầu các ngư dân lái tàu về đất liền.
Lúc này, thuyền trưởng Biên dân hồi tỉnh
gọi điện vào bờ báo tin.
Lúc cách bờ khoảng 50 hải lý
chừng 90 km,
các ngư dân gặp tàu cảnh sát biển 6001
được chăm sóc bằng bò chấn thương.
Ngư dân Huỳnh Tiến Công, 47 tuổi,
chú xã Tịnh Hòa, thành phố Quảng Ngãi
là người bị đánh nặng nhất.
Ông bị gãy tay, chân bị đánh sưng vù
và bị thương nhiều nơi khác trên cơ thể.
Tối 29 tháng 9,
tàu cá cập cảng Sa Kỳ,
4 ngư dân được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi.
Ngoài thuyền trưởng đang điều trị,
ngư dân Công bị thương rất nặng,
phải chuyển ra Quảng Nam để phẫu thuật.
Xóm Gành Cà,
thôn Châu Thuận Biển, nổi tiếng với nghề lặn biển
ở Hoàng Sa.
Tuy nhiên quá trình ngư dân đánh bắt cá ở đây
thường xuyên bị tàu nước ngoài cản trở.
Thuyền trưởng Biên kể lại,
tàu của anh bị phía Trung Quốc
lai rắt tàu tới đảo Hải Nam.
Anh và một số thuyền viên bị nhốt 12 ngày.
Gia đình phải gửi khoảng 140 triệu đồng
sang chuộc.
Ngư dân Nguyễn Thương cho biết
từng bị bắt và nhốt ở đảo Hải Nam năm 2009.
Chính anh là người về trước
để lấy tiền chuộc thuyền trưởng Biên.
Tháng 6 năm 2023,
anh cũng bị Trung Quốc tấn công gần đảo Hai Trụ.
Các ngư dân đều cho rằng mức độ bạo lực
trong những lần truy đuổi của tàu Trung Quốc
ngày càng gia tăng, khiến họ lo ngại.
Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng
từ năm 1974.
Nước này thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa,
đắt chủ sở trên đảo Phú Lâm từ tháng 7 năm 2012,
nhằm thâu tóm các quần đảo ở Biển Đông,
trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Nhiều năm qua,
Việt Nam luôn khẳng định có đầy đủ cơ sở pháp lý
và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền
với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,
phù hợp với luật pháp quốc tế.
Tuy nhiên, do Trung Quốc đã kiểm soát thực địa
tại quần đảo Hoàng Sa từ hơn nửa thế kỷ qua,
nên ngư dân Việt Nam
khi đánh cá tại ngư trường này
luôn đối mặt với sự xua đuổi,
thậm chí là hành hung của các lực lượng Trung Quốc.
Trong một động thái liên quan,
người phát ngôn Bộ Cộng đồng Việt Nam Phạm Thu Hằng
lên tiếng, hành động của lực lượng
thực thi pháp luật Trung Quốc đã vi phạm
nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa,
vi phạm luật pháp quốc tế,
công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển 1982.
Bà Hằng cho rằng,
cách hành xử của lực lượng chấp pháp Trung Quốc
đi ngược nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao
hai nước về kiểm soát và quản lý tốt hơn
tranh chấp trên biển, theo thông cáo của Bộ Ngoại giao.
Việt Nam hết sức quan ngại,
bất bình và kiên quyết phản đối
cách hành xử thô bảo của lực lượng
thực thi pháp luật Trung Quốc đối với ngư dân
và tàu cá Việt Nam đang hoạt động
tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam,
gây thương tích, đe dọa đến tính mạng
và gây thiệt hại về tài sản của ngư dân Việt Nam,
người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói.
Bộ Ngoại giao đã giao thiệp nghiêm khắc
với Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội,
mạnh mẽ phản đối hành động nói trên
của lực lượng thực thi pháp luật Trung Quốc,
yêu cầu Trung Quốc tôn trọng đầy đủ chủ quyền
của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa,
khẩn trương điều tra và thông báo kết quả
cho phía Việt Nam, không tái diễn các hành động tương tự.
Trong khi đó, Hội Thủy sản Việt Nam
đã gửi công văn cho Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Đông Thôn.
Bộ Ngoại giao bàn đối ngoại Trung ương
vào thứ Tư ngày 2 tháng 10 về việc
phản đối phía Trung Quốc cản trở
cướp phá tài sản, đánh đập ngư dân
và kiến nghị cần tăng cường hỗ trợ ngư dân
khi đi đánh cá trên biển.
Công văn dẫn báo cáo của Hội Nghe cá
tỉnh Quảng Ngãi cho biết, trong thời gian gần đây,
lực lượng chức năng Trung Quốc liên tục
nhiều lần xua đuổi, ngăn cản, cướp phá
tài sản, trang thiết bị, ngư cụ
và sản phẩm hải sản đánh bắt của ngư dân
và đe dọa tính mạng của ngư dân ta.
Công văn liệt kê các vụ việc
như là ngư dân bị cướp,
bị đánh đập gãy tay gãy chân
vào các ngày 19 tháng 8 và 29 tháng 9
năm 2024.
Do đó, Hội Thủy sản Việt Nam
kiến nghị như sau.
Kịp thời xác minh vụ việc, lên tiếng phản đối
mạnh mẽ các hành vi vi phạm pháp luật nêu trên
của phía Trung Quốc, yêu cầu phía Trung Quốc
chấm dứt ngay hành động sai trái như trên,
bồi thường thiệt mạng với sức khỏe con người,
tài sản cho ngư dân Việt Nam,
không xâm phạm đến hoạt động đánh bắt hải sản
của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền
của Việt Nam.
Tăng cường các biện pháp hỗ trợ ngư dân,
thường xuyên có lực lượng chấp pháp hỗ trợ cho ngư dân,
bảo vệ an toàn cho ngư dân Việt Nam,
để ngư dân yên tâm bám biển,
sản xuất trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam,
góp phần phát triển kinh tế biển,
bảo vệ tài nguyên biển quốc gia
Trong khi đó, trả lời Reuters vào ngày thứ Ba,
ngày 1 tháng 10, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết,
các tàu cá của Việt Nam đã đánh bắt trái phép
ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa
mà không được chính phủ Trung Quốc cho phép,
và các cơ quan chính quyền Trung Quốc liên quan
đã thực hiện các biện pháp để ngăn chặn.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc không đề cập trực tiếp
đến vụ tấn công ngày 29 tháng 9.
Bộ này tuyên bố,
các hoạt động tại khu vực mang tính chuyên nghiệp
và có kiềm chế, không có ai bị thương.
Trong một phân tích vào ngày 1 tháng 10,
nhà nghiên cứu độc lập Đặng Sơn Duân
đã chia sẻ trên website của ông.
Hai tàu Trung Quốc tấn công các ngư dân Quảng Ngãi
ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
ngày 29 tháng 9
là tàu Tamsa Chấp Pháp 101
và Tamsa Chấp Pháp 301.
Trong khi đó,
dữ liệu tàu biển cho thấy hai tàu
101 và 301 xuất hiện
tại khu vực này vào sáng ngày 29 tháng 9.
Đây là các tàu thuộc Cục Chấp Pháp Hành chính Tổng hợp
và Quản lý tình trạng khẩn cấp
của cái gọi là thành phố Tamsa.
Sự trùng hợp về số hiệu,
vị trí hoạt động cũng như cách hành xử
bạo lực và vô nhân đạo cho phép kết luận
chúng chính là hai tàu đã tấn công
dã man các ngư dân Quảng Ngãi.
Việc tàu cá Việt Nam bị phía Trung Quốc
xua đuổi, tấn công, thậm chí đánh đập và cướp
tích thu tài sản là điều không hiếm.
Hồi tháng 1 năm 2024,
Chủ tịch Hội Nghề Cá Việt Nam
và Chủ tịch Hội Nghề Cá Đà Nẵng cho biết
các ngư dân đang phải tránh xa vùng ngư trường Hoàng Sa
và vài trục hải lý để đảm bảo an toàn
trước những tàu dân quân biển
và tàu chấp pháp của Trung Quốc.
Ông Trần Văn Lĩnh, Chủ tịch Hội Nghề Cá Đà Nẵng
khi đó cũng đề cập đến lực lượng dân quân biển
rất đông đảo của Trung Quốc
qua các câu chuyện được bà con ngư dân về kể lại.
Lực lượng này đi coi chiến dịch,
hết mùa cấm biển thì lao xuống
vùng biển Việt Nam rất đông.
Bà con ngư dân mình thấy mà sợ luôn
vì họ đi rất là đông, cả trăm ngàn tàu
Không những rủi ro bị tàu Trung Quốc tấn công hay xô đuổi
sinh kế của hàng ngàn ngư dân ở Việt Nam
còn bị ảnh hưởng trước lệnh cấm đánh bắt cá
thường niên của Trung Quốc tại vùng biển
phía Bắc Vĩ Tuyến 12 trở lên
từ ngày 1 tháng 5 đến 16 tháng 8 hàng năm.
Ông Nguyễn Việt Thắng,
Chủ tịch Hội Nghề Cá Việt Nam,
cựu Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Đông Thôn Việt Nam
đánh giá sự tấn công của Trung Quốc
nhằm vào ngư dân Việt Nam nhìn chung vẫn cao.
Ông nói cả năm 2023
vẫn có tàu chấp pháp Trung Quốc
ở Trường Sa Hoàng Sa xô đuổi tàu ngư dân Việt Nam
bà con bị cản phá, cản trở
rồi có trường hợp đâm va lên tàu cướp tài sản.
Theo số lượng thống kê sơ lược
chưa đầy đủ của Hội
thì mỗi tỉnh xảy ra vài chục vụ ngư dân Việt Nam
bị tàu Trung Quốc cản phá trong năm 2023
nhìn chung vẫn cao, ông Thắng nói.
Về tình hình ngư dân Đà Nẵng ra khơi
ông Linh cho biết hiện nay
bà con đang trang bị bản đồ, thiết bị vệ tinh
nhưng phải tránh những vùng
Bà con căn cứ theo bản đồ ngư trường
mà Cục Thủy sản Việt Nam công bố
và cả kinh nghiệm để ra khơi.
Bản đồ chính phủ thì vẫn ghi Hoàng Sa là của Việt Nam
nhưng ngư dân thì đâu dám tới.
Các ngư dân Đà Nẵng cũng là người làm thuê thôi
ông chủ tàu thì không có đi
nên ngư dân cũng tránh những vùng bị cho là nhạy cảm.
Ngư dân thường tránh ngư trường Hoàng Sa khoảng 15 hải lý
khi vào từ 15 hải lý trở xuống
thì họ sẽ bị tàu Trung Quốc xô đuổi
hoặc phát cảnh cáo
nên ngư dân không tha thiết gì vào
vì chưa chắc có cá mà cũng nguy hiểm nữa.
Ông Linh nói thêm.
Dân quân biển Trung Quốc
từ lâu đã là một lực lượng giúp quân đội nhân dân Trung Quốc
thực hiện những tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông.
Thời điểm lực lượng này được biết đến rộng rãi
là từ năm 1950.
Theo một nghiên cứu năm 2020
từ RAND Corporation
trong hải chiến Hoàng Sa năm 1974
dân quân biển cũng đóng vai trò quan trọng
giúp Trung Quốc đánh bại Việt Nam Cộng Hòa
để chiếm toàn bộ quần đảo này.
Một nghiên cứu từ Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế
SCSIS của Hoa Kỳ năm 2021 chỉ rõ
nhờ khoảng cách thuận tiện
của các tiền đồn Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa.
Các tàu dân quân thường tham gia
cùng lực lượng chấp pháp Trung Quốc
để chống lại hoạt động đánh bắt
và khai thác hydrocarbon dâu khí
của các quốc gia Đông Nam Á
có tranh chấp chủ quyền tại khu vực
nằm trong yêu sách đường 9 đoạn mơ hồ của Trung Quốc.
Với lực lượng dân quân đóng vai bề ngoài
là tàu đánh bắt thương mại
Bắc Kinh có quyền phủ nhận trách nhiệm
trong khi sử dụng lực lượng này
để gây áp lực lên các quốc gia
tranh chấp khác với chi phí thấp.
Giáo sư Alexander Vu Vinh
từ Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á-Thái Bình Dương
thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ
hồi tháng 1 năm 2024 cho rằng
lực lượng này nằm trong chính sách
tầm án dâu của Trung Quốc.
Chiến lược tốt nhất của Trung Quốc là tầm án dâu
tức là dân dân đẩy đuổi Việt Nam, Philippines
rồi biến thành điều gọi là bình thường mới
và dân dân ép các nước
chấp thuận thực tế mới của Trung Quốc.
Đây là chiến lược tương đối hữu hiệu của Trung Quốc.
Và trong chiến lược này,
Trung Quốc đã sử dụng mọi lực lượng
đi trên tuyến đầu là hải cảnh, rồi dân quân biển,
các loại tàu chấp pháp khác,
hải quân thì ở xa hơn, nằm ở các căn cứ.
Giáo sư Vu Vinh cho rằng
lực lượng này phục vụ cho mục đích của Trung Quốc
là không có chiến tranh trên Biển Đông
mà thay vào đó là dân dân thiết lập những thực tế mới.
Ông Vu Vinh nói
theo tôi nhận định thì cho đến nay,
lợi ích của Trung Quốc là không có chiến tranh ở Biển Đông.
Vì 40% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu Trung Quốc
đi qua con đường hàng hải trên Biển Đông.
Hậu quả cuộc chiến tranh trên Biển Đông là khôn lưỡng,
không đơn thuần là xung đột Việt Nam và Trung Quốc
hay Philippines và Trung Quốc,
đám lửa có thể bùng lên tới mức không ai kiểm soát được.
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền
đối với gần như toàn bộ Biển Đông,
điều mà Việt Nam và các nước khác
trong khu vực phản đối.
Với lực lượng trên biển vượt trội,
Trung Quốc hiện thực hóa các yêu sách của mình
bằng việc triển khai rộng khắp lực lượng hải cảnh,
tàu dân quân biển, tàu nghiên cứu,
tàu cá ở các khu vực bao gồm vùng đặc quyền kinh tế
của các nước láng giềng.
Hải cảnh Trung Quốc đã bị cáo buộc gây hấn
và làm gián đoạn các hoạt động đánh bắt thủy sản
và khai thác năng lượng của các nước
như Malaysia, Philippines và Việt Nam,
gây lo ngại về sự leo thang mâu thuẫn
và thách thức mối quan hệ
giữa các nước trong khu vực.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có lực lượng
dân quân tự vệ biển, thuộc lực lượng
dân quân tự vệ Việt Nam.
Lực lượng này được chia thành đại đội,
hải đội, tiểu đoàn, hải đoàn.
Theo luật pháp Việt Nam,
thì dân quân tự vệ biển là lực lượng
thuộc dân quân tự vệ nông cốt được tổ chức
ở cấp xã ven biển, xã đảo và cơ quan
tổ chức có phương tiện hoạt động trên biển
để làm nhiệm vụ trên các vùng biển Việt Nam.
Đánh giá vì lực lượng dân quân biển Việt Nam,
giáo sư Vu Vinh nói,
Việt Nam cũng nhìn rõ chế lược đó của Trung Quốc,
cũng sử dụng toàn dân đánh giặc,
chiến tranh nhân dân trên biển,
hải quân không bao giờ đi ra tuyến đầu.
Ngoài ra, cho ngư dân ra đánh bắt cá
vừa miêu sinh, vừa bảo vệ chủ quyền.
Đây là phương tức của Việt Nam
để tránh độc độ, sử dụng lực lượng phi quân sự
để thực thư chủ quyền.
Tóm lại, hai lực lượng quan trọng của Việt Nam
là kiểm ngư và ngư dân.
Chuyên gia về an ninh quốc tế cho hay,
dân quân biển Việt Nam không thể nào so với
dân quân biển Trung Quốc về sức mạnh được.
Việt Nam đang bảo vệ luật pháp quốc tế
và cũng để bảo vệ cho mình.
Do đó, là dân quân biển thì không trang bị vũ khí được,
chỉ có vũ khí tự vệ
ở mức độ nhất định thôi.
Thế nhưng Trung Quốc thì dân quân biển chỉ là vỏ bọc
và được trang bị đầy đủ vì Bắc Kinh
đang muốn phá vỡ luật pháp quốc tế
để áp đặt luật lệ và ý chí của Trung Quốc
liên quan đến vấn đề Biển Đông.
Đây là sự khác biệt lớn nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Còn quý vị thì quý vị nghĩ gì
về câu chuyện nóng bỏng vừa xảy ra
trên Biển Đông lúc này?
Liệu những hành động mang tính bắt nạt và vũ lực của Bắc Kinh
có còn tiếp diễn với các nước nhỏ hơn không?
Chúng ta hãy cùng chờ xem.
Thưa quý vị, liên quan đến vụ việc
tàu hải cảnh Trung Quốc tấn công tàu cá
của người dân Việt Nam
khiến 10 người bị thương,
Hoa Kỳ, Liên Hiệp Châu Âu và Philippines
đã đưa ra những tuyên bố lệnh án.
Đáng chú ý, đây là thời điểm
Washington và các đồng minh
cam kết tăng cường an ninh hàng hải ở khu vực.
Ông Matthew Miller,
người phát ngôn Vụ Ngoại giao Hoa Kỳ
cho biết hôm 3 tháng 10 trên trang X,
Mỹ quan ngại sâu sắc
trước các báo cáo về hành động nguy hiểm
của các tàu thực thi pháp luật của Trung Quốc
đối với tàu cá Việt Nam
quanh quần đảo Hoàng Sa vào ngày 29 tháng 9.
Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc
chấm dứt hành vi nguy hiểm
và gây bất ổn ở Biển Đông.
Cũng hôm ngày 3 tháng 10,
Phái đoàn Liên Hiệp Châu Âu-EU tại Việt Nam
bày tỏ quan ngại sâu sắc
về các báo cáo đề cập tới vụ việc
nghiêm trọng ở quần đảo Hoàng Sa
liên quan đến một tàu cá Việt Nam
và một tàu cảnh sát biển Trung Quốc
vào ngày 29 tháng 9.
EU nói rằng cần phải duy trì
và tôn trọng mọi lúc mọi nơi
hiến trương Liên Hợp Quốc,
công ước Liên Hợp Quốc về luật biển Anklos
và các chuẩn mực quốc tế khác
liên quan đến sự an toàn cho tính mạng
con người trên biển. Điều này đặc biệt
bao gồm việc cấm sử dụng vũ lực
hoặc cưỡng ép.
EU lên án mọi hành động phi pháp,
leo thang và cưỡng ép làm suy yếu
các nguyên tắc kể trên của luật pháp quốc tế
cũng như đe dọa tới hòa bình và ổn định cho khu vực.
Và kêu gọi giảm căng thẳng.
Đồng thời nói rằng, EU luôn cam kết
hỗ trợ các đối tác của mình tìm cách thực hiện
các quyền hợp pháp của họ trong khu vực
và xa hơn nữa.
Philippines, quốc gia trong vài năm qua
liên tục có mối quan hệ đầy căng thẳng
với Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp.
Hôm 4 tháng 10 cũng tỏ rõ quan điểm
đứng về phía Việt Nam.
Chúng tôi lên án mạnh mẽ các hành động bạo lực
và bất hợp pháp của lực lượng hải cảnh Trung Quốc
đối với ngư dân Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa
vào ngày 29 tháng 9 năm 2024.
Cố vấn an ninh quốc gia Philippines
Eduardo M. Arno cho biết
trong một tuyên bố ngày 4 tháng 10.
Nói thêm rằng,
việc 10 ngư dân bị thương
và tài sản bị hư hỏng
là hành động đáng báo động,
không có chỗ đứng trong quan hệ quốc tế.
Ông Arno đưa ra nhận định rằng
việc sử dụng vũ lực như vậy
đối với ngư dân dân sự
là vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế,
đặc biệt là công ngước UNCLOS
vi phạm các phép lịch sự cơ bản của con người.
Chúng tôi sát cánh cùng Việt Nam
trong việc tố cáo hành động nghiêm trọng này
và kêu gọi về trách nhiệm giải trình.
Trung Quốc phải tuân thủ luật hàng hải quốc tế
và chấm dứt mọi hoạt động thu địch
gây nguy hiểm đến tính mạng và sinh kế
của các thủy thủ dân sự",
Bộ trưởng Arno nói thêm.
Cũng hôm 4 tháng 10,
Bộ Ngoại giao Philippines đưa ra quan điểm tương tự,
nói rằng Philippines liên tục lên án
việc sử dụng vũ lực gây hấn và đe dọa ở Biển Đông,
đồng thời nhấn mạnh
Tuy nhiên, Trung Quốc phủ nhận
việc lực lượng của họ đã tiếp cận mạnh tay
để ngăn chặn tàu thiền Việt Nam hoạt động trong vùng biển,
mà cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền.
Trước đó, hôm 1 tháng 10,
hãng tin Reuters loan tin rằng
phía Trung Quốc cho biết cơ quan chức năng của họ
đã ngăn chặn các tàu cá Việt Nam
đang đánh bắt trái phép.
Bắc Kinh nói các hoạt động tại chỗ rất chuyên nghiệp
và hạn chế
và không có việc xảy ra thương tích.
Trong khi đó, SCSPI
tổ chức nghiên cứu Biển Đông
có trụ sở tại Bắc Kinh
nêu nhận định trên X vào ngày 3 tháng 10 rằng
chính vì chính phủ Việt Nam
đã ra sức dùng các ngư dân Việt Nam
để tạo cái gọi là tranh chấp trên quần đảo Paracel,
tức là Hoàng Sa,
nên đã khiến họ gặp nguy hiểm.
Tổ chức này cũng đưa ra tính toán rằng
trong tháng 9 năm 2024
đã có 14.983 tàu cá Việt Nam hoạt động
trên toàn Biển Đông,
giảm so với con số 15.557
Đối mặt với những ngư dân Việt Nam dùng dao,
trĩa, gậy gọc,
lực lượng chấp pháp bao gồm hải cảnh Trung Quốc
không có nhiều lựa chọn nhẹ nhàng.
Hãy hỏi lực lượng chấp pháp của Malaysia
và Indonesia,
họ có nhiều kinh nghiệm đối phó với các ngư dân Việt Nam
hơn hải cảnh Trung Quốc,
tổ chức SCSPI viết.
Liên quan đến vụ việc trên,
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã thẳng thắn lên tiếng.
Tuyên bố của Việt Nam được đánh giá là mạnh mẽ
và thẳng thắn hơn những lần trước,
nhất là khi đều đích giành Trung Quốc.
Theo thông báo tối ngày 2 tháng 10,
Bộ Ngoại giao cho biết,
ngày 29 tháng 9 vừa qua đã xảy ra
việc lực lượng thực thi pháp luật của Trung Quốc
trấn áp, đánh bị thương,
tịch thu tài sản của ngư dân Việt Nam
thuộc tàu cá Quy Ngờ 95739TS
tỉnh Quảng Ngãi
trong khi đang hoạt động
tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Trong các chuyến viếng thăm cấp cao
của lãnh đạo hai nước,
Việt Nam và Trung Quốc đều nhất trí cần kiểm soát
và xử lý thỏa đáng bất đồng trên biển.
Vấn đề Biển Đông cũng được đề cập
trong tuyên bố Trung-Việt-Trung
sau chuyến đi của Tổng Bí Thư,
Chủ tịch nước Tô Lâm sang Trung Quốc
hồi tháng 8 năm nay.
Tuyên bố nêu rõ,
hai bên đi sâu trao đổi ý kiến chân thành,
thẳng thắn về vấn đề trên biển,
nhấn mạnh cần kiểm soát tốt hơn
và tích cực giải quyết bất đồng trên biển,
duy trì hòa bình, ồn định ở Biển Đông và khu vực.
Có ít nhất hai vụ tấn công cùng ngày.
Dự án Đại sự ký Biển Đông,
một dự án nghiên cứu độc lập tại Việt Nam,
cho biết theo những gì mà dự án này tổng hợp được,
kết hợp với dữ liệu theo dõi tàu thiền,
thì cho thấy đã có ít nhất
hai vụ tấn công tàu cá Việt Nam
xảy ra trong khu vực quần đảo Hoàng Sa
trong ngày 29 tháng 9.
Vụ thứ nhất xảy ra trong khu vực Đá Chi Mén
là vụ tàu của thuyền trưởng Nguyễn Thanh Biên
vào khoảng 9-10 giờ sáng
làm bốn ngư dân bị thương,
trong đó có người bị đánh gãy tay.
Tàu cá bị cướp hết máy móc,
ngư cụ và vài tấn cá.
Tổng thiệt hại sơ bộ khoảng
500-600 triệu đồng.
Thuyền trưởng Nguyễn Thanh Biên kể rằng
sau nhiều tiếng đồng hồ bị hai tàu Trung Quốc
là chấp pháp Tamsa 301
và chấp pháp Tamsa 101 rượt đuổi,
cuối cùng tàu của ông cũng bị tiếp cận
và có khoảng 40 người Trung Quốc
leo lên tàu ông.
Chúng tôi vừa chạy thì chúng đánh
từ đằng sau đánh tới, gặp đầu đánh đó.
Chúng nhầm vào tôi là thuyền trưởng,
hai thằng đánh vô lưng và vai
làm tôi bất tỉnh.
Trong khi tôi bất tỉnh, nó đánh mấy anh em khác.
Một anh bị gãy tay là anh Huỳnh Tiến Công.
Ông Biên thuật lại.
Sau khi ông Biên bị đánh bất tỉnh
và ông Công bị gãy tay,
thì lực lượng Trung Quốc dồn các ngư dân Việt Nam lại,
bắt quy xuống rồi lấy những tấm bạc che lại
để không ai biết Trung Quốc
đang làm gì trên tàu.
Dự án đại sự ký Biển Đông
nói ngày 2 tháng 10 rằng
họ tính toán nơi xảy ra sự cố
tàu của ông Biên
nằm trong khu vực Đá Chi Mén.
Vụ tấn công thứ hai là đối với tàu
Quảng Ngãi mang số hiệu quy ngờ
90659TS
do ông Võ Thành Tân làm chủ tàu.
Theo dự án đại sự ký Biển Đông,
vụ việc xảy ra lúc 15h
cách Đá Chi Mén hơn 22 hải lý.
Theo lời kể của thuyền trưởng Tân
được báo chí trong nước trích dẫn,
ông Công bị hành hung
và tàu bị lấy đi toàn bộ ngư cụ
và lượng cá đã đánh bắt được
với tổng thiệt hại ban đầu ước tính
khoảng 300 triệu đồng.
Đáng chú ý, trong vụ tấn công hết sức thô bạo này,
Trung Quốc sử dụng các tàu
Tamsa chấp pháp thuộc lực lượng chấp pháp
tổng hợp Tamsa,
tức là một lực lượng thực thi pháp luật địa phương.
Dù lực lượng này được biết đến là
phối hợp chặt chẽ và có thể chịu
sự điều hành của lực lượng hải cảnh Trung Quốc,
trong sự cố lần này đã không tìm được
bằng chứng nào cho thấy hải cảnh Trung Quốc
cũng tham gia trực tiếp vào vụ việc.
Bởi vậy có thể nghi ngờ rằng
đây là một chiến thuật vùng sám của Trung Quốc,
trong đó lực lượng địa phương được sử dụng
khi cần phô trương các hành động tàn bạo
quyết liệt thay vì lực lượng trung ương.
Điều này cho phép lực lượng trung ương
có thể chối bỏ trách nhiệm khi muốn,
thành viên của dự án Đại sự ký Biển Đông nhận định.
Giáo sư Alexander L. Vu Vinh
từ Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á-Thái Bình Dương
thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ
hồi tháng 1 năm 2024
từng nói rằng Trung Quốc đang tiến hành
chiến lược Tàm An Dâu.
Chiến lược Tàm An Dâu
tức là dân dân đẩy đuổi Việt Nam, Philippines
rồi biến thành điều gọi là bình thường mới
và dân dân ép các nước
chấp nhận thực tế mới của Trung Quốc.
Đây là chiến lược tương đối hữu hiệu
của Bắc Kinh.
Và trong chiến lược này, Trung Quốc đã sử dụng
mọi lực lượng, đi trên tuyến đầu là hải cảnh
tức là cảnh sát biển, dân quân biển,
các loại tàu chấp pháp khác,
hải quân thì ở xa hơn, nằm ở các căn cứ.
Sự việc xảy ra
với 2 tàu cá Quinger 957-39 TS
và Quinger 906-59 TS
là vụ mới nhất
trong số hàng loạt vụ lực lượng
chức năng Trung Quốc tấn công tàu cá Việt Nam
khi đánh bắt tại vùng biển gần
quần đảo Hoàng Sa,
các thực thể địa lý mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.
Nhưng Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm hữu
và kiểm soát thực địa
từ ít nhất hơn nửa thế kỷ qua.
Vào tháng 8 năm 2024,
tàu Quinger 988-52 TS
do Nguyễn Quang Dự
làm chủ tàu kiêm thiền trưởng,
cũng bị tàu Trung Quốc
mang số hiệu 301 tấn công
và lấy đi nhiều trang thiết bị
và 3 tấn hải sản,
với tổng thiệt hại khoảng 143,5 triệu đồng.
Lần này,
ngôn từ của Việt Nam được đánh giá là mạnh mẽ
và trực diện hơn khi đề cập đến
sự việc đáng tiếc xảy ra trên biển Đông.
Thông điệp cụ thể của Bộ Quyết giao như sau.
Hành động của lực lượng thực thi pháp luật Trung Quốc
đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền
của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa,
vi phạm luật pháp quốc tế,
công ngược của Liên Hợp Quốc về luật biển 1982,
đi ngược nhận thức chung
của lãnh đạo cấp cao hai nước
về kiểm soát và quản lý tốt hơn tranh chấp trên biển.
Việt Nam hết sức quan ngại,
bất bình và kiên quyết phản đối
cách hành xử thô bảo của lực lượng thực thi pháp luật Trung Quốc
đối với ngư dân và tàu cá Việt Nam
đang hoạt động
tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam,
gây thương tích, đe dọa đến tính mạng
và gây thiệt hại về tài sản
của ngư dân Việt Nam.
Bộ Quyết giao Việt Nam đã giao thiệp nghiêm khắc
mạnh mẽ phản đối hành động nói trên
của lực lượng thực thi pháp luật Trung Quốc,
yêu cầu Trung Quốc tôn trọng đầy đủ
chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa,
khẩn trương điều tra
và thông báo kết quả cho phía Việt Nam,
không tái diễn các hành động tương tự.
Nhà nghiên cứu của dự án
Đại sự ký Biển Đông nói rằng
Việt Nam sẽ vẫn giữ cách tiếp cận cũ,
ngoại giao âm thầm nhiều nhất có thể,
nhưng khi việc ngoại giao này thất bại
hoặc đối với những vụ việc nghiêm trọng,
Việt Nam sẽ lên tiếng công khai.
Tấn công ngư dân là một chiến thuật
linh hoạt của Trung Quốc
để thể hiện thái độ với Việt Nam,
nhưng Việt Nam vẫn còn công cụ pháp lý chưa sử dụng
và nếu Trung Quốc tiếp tục tấn công tàu cá Việt Nam,
Việt Nam sẽ không tránh khỏi
việc phải cân nhắc khả năng kiện Trung Quốc.
Trung Quốc càng tỏ ra hung hăng
với Việt Nam, có thể sẽ càng đẩy
Việt Nam ra xa và càng khiến Việt Nam
tích cực tăng cường mạng lưới quan hệ,
đối tác nhằm nâng cao thế đứng của mình,
mở cửa cho nhiều đối tác có thể hiện diện
ở Biển Đông.
Tình hình Biển Đông đã trở nên căng thẳng
trong nhiều tháng qua, với những xung đột
trên thực địa giữa Trung Quốc và Philippines.
Vụ việc tàu Trung Quốc tấn công tàu cá Việt Nam
vào ngày 29 tháng 9 một lần nữa
khiến tình hình càng trở nên phức tạp.
Không những rủi ro bị tàu Trung Quốc
tấn công hay xua đuổi, sinh kế của hàng ngàn
ngư dân Việt Nam vẫn còn bị ảnh hưởng
trước lệnh cấm đánh bắt cá thường niên
của Trung Quốc tại vùng biển
phía Bắc Vĩ Tuyến 12 trở lên
từ ngày 1 tháng 5 đến 16 tháng 8 hàng năm.
Thành viên dự án đại sự ký Biển Đông nói rằng
sự leo thang căng thẳng trên Biển Đông
hẳn không nằm ngoài dự đoán của Việt Nam.
Đây cũng là lý do Việt Nam đã tăng cường
lẫn biển xây đảo trong thời gian vừa rồi
ở quần đảo Trường Sa.
Theo lời vụ trưởng vụ chính sách đối ngoại
Bộ Ngoại giao ông Lê Đình Tĩnh khi trả lời
The Washington Post,
Trung Quốc có nhiều lý do để không hài lòng
với Việt Nam, không dùng cách tiếp cận
minh bạch quyết đoán như Philippines.
Nhưng những bước đi của Việt Nam
trong thời gian gần đây tương đối mạnh bảo.
Thành viên dự án đại sự ký Biển Đông
dẫn chứng việc Việt Nam nộp đệ trình thêm lục địa
mở rộng khu vực trung tâm,
vốn đã chỉ hoãn nhiều năm,
dù đã chuẩn bị xong hồ sơ từ năm 2009,
mở rộng đảo quy mô lớn ở quần đảo Trường Sa,
rồi đến việc lần đầu tiên tập trận
với lực lượng cảnh sát biển Philippines,
lần đầu tiên triển khai tàu hải quân tới Úc
tham gia tập trận cùng các nước phương Tây.
Hành động của Trung Quốc ít nhất là vi phạm
ba quy tắc ứng xử và quy định
của luật pháp quốc tế.
Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền
của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.
Nhà nước Việt Nam đã thực hiện chiếm hữu
thực sự hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,
phù hợp với các quy định của luật quốc tế
ít nhất là từ thế kỷ 17.
Trung Quốc đã vi phạm công ước của Liên Hợp Quốc
về luật biển Anklos năm 1982.
Điều 73 của Anklos hàm ý
không được sử dụng các hành vi hình phạt thân thể
đối với các ngư dân,
thủy thủ trên các tàu cá, tàu vận tải.
Việc các tàu Trung Quốc tấn công dã man
các ngư dân Việt Nam, hoạt động đánh bắt cá
bình thường trong vùng biển Việt Nam
không chỉ vi phạm công ước Liên Hợp Quốc luật biển,
pháp luật Việt Nam mà còn xâm phạm
đến quyền con người được pháp luật quốc tế bảo hộ.
Cách hành xử thô bảo của các tàu Trung Quốc
đối với các tàu cá của Việt Nam
đã đi ngược nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao
hai nước về kiểm soát và quản lý
tốt hơn tranh chấp trên biển.
Theo đó, hai bên đi sâu trao đổi ý kiến,
chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển,
nhấn mạnh cần kiểm soát tốt hơn
và tích cực giải quyết bất đồng trên biển,
duy trì hòa bình, ôn định ở biển Đông và khu vực.
Chuyên gia luật biển quốc tế Hoàng Việt
đến từ Đại học luật TP.HCM cho biết,
trước khi tàu Trung Quốc tấn công tàu cá của Việt Nam
ở quần đảo Hoàng Sa vào cuối tháng 9 vừa qua,
thì từ năm ngoái, phía Philippines
và Trung Quốc cũng leo thang căng thẳng
ở bãi cạn Scarborough và một số thực thể khác
ở biển Đông.
Ví dụ Manila cáo buộc hải cảnh Trung Quốc
phun vòi rồng vào tàu chở hàng tiếp tế
cho quân đội Philippines vào tháng 11 năm ngoái.
Đến đầu tháng 8 vừa qua,
lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines
tiếp tục cáo buộc tàu hải cảnh Trung Quốc
dùng vòi rồng bắn vào các tàu tiếp tế
của Philippines ở biển Đông.
Cũng trong năm nay,
Philippines cáo buộc lực lượng hải quân
và hải cảnh Trung Quốc chiếu tia laser
cấp độ quân sự vào cá tàu dân sự
tàu cảnh sát biển Philippines.
Không chỉ gây hấn, dùng các biện pháp bạo lực
với tàu cá Việt Nam, Philippines.
Khu vực biển Đông cũng chương kiến những leo thang
căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước khác
như Indonesia hay Malaysia.
Các quốc gia ASEAN và Trung Quốc
từ năm 2002
đã ký tuyên bố về ứng xử
của các bên ở biển Đông D.U.C.
Đồng thời, ASEAN và Trung Quốc cũng đang đàm phán
để xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử biển Đông
C.U.C, vốn bị trì hoãn
và kéo dài nhiều năm qua.
Một trong những lý do cho sự trì hoãn này
chính là việc thiếu kiềm chế,
sử dụng các biện pháp bằng tính vũ lực
như đe dọa, bắt nạt, quấy dối
thậm chí là tấn công tàu cá
của các nước như Trung Quốc đã làm
với các ngư dân Quảng Ngãi vừa rồi.
Biển Đông là một vùng biển giàu tiềm năng,
không chỉ tài nguyên dầu mò khi đốt,
các loại hải sản phong phú
mà quan trọng không kém, đây còn là vùng biển
nhộn nhịp tàu thuyền khắp nơi trên thế giới
đi qua lại, vận chuyển hàng hóa.
Đây cũng là nơi tập trung nhiều tuyến cáp ngầm,
các hoạt động nghiên cứu khoa học.
Nếu tương sử dụng bạo lực thì tình hình
tại khu vực này sẽ vô cùng căng thẳng,
đến nỗi không chỉ là người dân doanh nghiệp
của các nước ven biển,
mà cả các quốc gia khác
cũng sẽ tăng lên
về vấn đề căng thẳng.
Hệ lụy là không nước nào có lợi,
tiềm năng của Biển Đông cũng khó có thể khai thác được.
Chính vì vậy,
các quốc gia, nhất là Trung Quốc,
phải từ bỏ các động thái thô bão, hung hăng
như việc tấn công tàu cá của các nước như vừa qua,
tuân thủ tuyệt đối các quy định của UNCLOS
trong giải quyết tranh chấp,
tăng cường các hoạt động đối thoại, hiểu biết lẫn nhau
để không để các vụ việc sử dụng bạo lực tái diễn.
Còn quý vị thì sao?
Quý vị đánh giá như thế nào
về câu chuyện mà chúng tôi vừa trình bày?
Đến đây thì hồi ngày hôm nay,
chương trình của chúng ta cũng xin phép được tạm dừng tại đây.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
