Thời Cơ Đã Tới! Cơ Hội Vàng Tỷ Đô Đã Đến Với Kinh Tế Việt Nam

Góc Nhìn Lê Minh
705 Người theo dõi
Truyền thông Ấn Độ ngày 30 tháng 10 đưa tin nước này đã trở thành nhà cung cấp nhiên liệu tinh chế lớn nhất châu Âu, vượt qua cả Ả Rập-Sao Đi.
Ấn Độ sở hữu chữ lượng tài nguyên nhiên liệu bao gồm dầu mỏ, khí tự nhiên và than đá, nhưng lượng giữ chữ này không đủ để đáp ứng toàn bộ nhu cầu trong nước.
Với nguồn dầu mỏ hạn chế, họ phải dựa vào nguồn nhập khẩu dầu thô chủ yếu từ Nga, Ả Rập-Sao Đi và Iraq để đảm bảo nguồn cung năng lượng cho nền kinh tế đang phát triển mạnh.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, làm thế nào Ấn Độ có thể trở thành một trong những quốc gia cung cấp nhiên liệu tinh chế lớn nhất thế giới cho cả châu Âu, thậm chí vượt qua cả Ả Rập-Sao Đi?
Điều này một phần lớn nhờ vào sự thay đổi trong chuối cung ứng toàn cầu sau các lệnh cấm vận của phương Tây đối với dầu thô Nga.
với các sản phẩm như là dầu Diesel, xăng và nhiên liệu phản lực.
Những sản phẩm này được xuất khẩu chủ yếu sang các thị trường ở châu Âu, châu Phi và châu Á.
Từ đầu năm 2023, Ấn Độ đã cung cấp trung bình trên 360.000 thùng nhiên liệu tinh chế mỗi ngày cho châu Âu, vượt qua lượng cung cấp của Ả Rập-Sao Đi.
Ngoài ra, một số cơ sở lọc dầu ở Ấn Độ được sở hữu bởi các công ty Nga, điều này giúp Nga gián tiếp tiếp cận thị trường châu Âu và giảm thiểu tác động của các biện pháp trừng phạt.
Nhờ nguồn cung rẻ từ Nga, Ấn Độ không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn gia tăng xuất khẩu Diesel và nhiên liệu phản lực đến châu Âu,
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng khi các quốc gia này không còn nhập khẩu trực tiếp từ Nga.
Chúng ta thấy gì ở đây? Châu Âu cấm vận dầu Nga, loại bỏ dầu Nga ra khỏi giỏ hàng của mình.
Nhưng lại đi mua dầu từ một bên thứ ba với mức giá cao hơn. Cái này gọi là tự tay trọc thủng túi tiền của mình.
Khách quan mà nói, việc châu Âu tiếp tục mua dầu Nga thông qua Ấn Độ cho thấy rằng lệnh trừng phạt và cấm vận dầu Nga có những lỗ hổng trong tính thực thi và hiệu quả.
Đây là một ví dụ điển hình về cách các quốc gia và doanh nghiệp tìm cách lách qua các lệnh cấm vận kinh tế thông qua bên thứ ba.
Như chúng ta đã biết, lệnh cấm vận dầu từ Nga khiến các nước châu Âu không mua trực tiếp từ Nga nhưng không thể kiểm soát việc Nga bán dầu thô cho các quốc gia khác như là Ấn Độ.
Các quốc gia này có thể lọc, tinh chế dầu và bán lại cho châu Âu dưới dạng sản phẩm dầu tinh chế.
Các quốc gia bên thứ ba đã tận dụng khoảng trống trong lệnh trừng phạt để nhập khẩu dầu thô từ Nga với giá thấp, tinh chế và bán lại cho châu Âu.
Điều này phản ánh rằng các lệnh cấm vận dầu mỏ chưa đủ khả năng bao trùm toàn bộ chuỗi cung ứng dầu toàn cộng.
Mục tiêu của lệnh trừng phạt là làm giảm nguồn thu của Nga từ dầu khí.
Tuy nhiên, với việc châu Âu tiếp tục sử dụng dầu Nga dưới dạng dầu tinh chế từ Ấn Độ, dòng tiền vẫn tiếp tục chảy về Nga.
Mặc dù có thể ít hơn so với việc bán trực tiếp nhưng khi giá năng lượng cao hơn thì dù Nga bán ít mà vẫn thu được nhiều tiền hơn, không có sự tổn thất nào ở đây cả.
Rõ ràng các lệnh trừng phạt đã đẩy giá dầu lên cao, gây khó khăn cho những nước áp dụng, chẳng hạn như là châu Âu,
khi họ phải tìm kiếm nguồn cung thay thế thông qua các biên trung gian, kéo theo chi phí phát sinh.
Trong khi đó, các quốc gia B thứ 3 như Ấn Độ lại hưởng lợi đáng kể khi có thể mua dầu Nga với giá ưu đãi và bán lại với mức lợi nhuận cao hơn.
Tóm lại, việc châu Âu mua dầu Nga thông qua Ấn Độ làm nổi bật rằng các lệnh cấm vận kinh tế dù có mục đích làm suy yếu kinh tế của Nga
vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thương mại phức tạp và sự kết nối toàn cầu, từ đó làm giảm hiệu quả thực tế của chúng.
Vậy Ấn Độ có lợi thế gì trong nguồn cung nhiên liệu cho châu Âu so với Ả Rập Saudi?
Thứ nhất, khi Nga gặp khó khăn trong việc bán dầu thô trực tiếp cho châu Âu do lệnh cấm vận,
Ấn Độ trở thành một khách hàng lớn nhập khẩu dầu Nga với giá chiết khấu.
Điều này giúp họ giảm chi phí nguyên liệu thô, nâng cao khả năng cạnh tranh khi bán lại dầu tinh chế cho châu Âu.
Đây là một lợi thế mà Ả Rập Saudi không thể tận dụng theo cùng cách do các cam kết và giá dầu tiêu chuẩn.
Thứ hai, Ấn Độ có ngành công nghiệp lọc dầu mạnh mẽ với các nhà máy hiện đại thuộc các tập đoàn lớn như
Các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ có khả năng xử lý các loại dầu thô giá rẻ, chất lượng thấp từ Nga và biến chúng trở thành
các sản phẩm nhiên liệu tinh chế chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn của châu Âu.
Thứ ba, Ấn Độ có chi phí lao động và chi phí sản xuất thấp hơn nhiều so với Ả Rập Saudi.
Cùng với chi phí nguyên liệu thô thấp từ Nga, họ có thể giữ ra bán cạnh tranh.
Bên cạnh đó, vị trí địa lý của họ gần tuyến hàng hải quốc tế giúp tối hưu chi phí và thời gian vận chuyển nhiên liệu tới châu Âu.
Thứ tư, Ấn Độ không trực tiếp tham gia vào các lệnh trừng phạt với Nga và không chịu sức ép từ các quốc gia phương Tây về các quy tắc thương mại.
Điều này giúp họ linh hoạt trong giao dịch dầu với Nga và tiếp tục xuất khẩu nhiên liệu tinh chế sang châu Âu mà không gặp giao cản chính trị.
Và cuối cùng, do không bị hạn chế bởi các chính sách cung ứng của OPEC như là Ả Rập Saudi,
Ấn Độ có thể linh hoạt trong việc điều chỉnh sản lượng theo nhu cầu của thị trường châu Âu.
Điều này cho phép họ nhanh chóng đáp ứng khi nhu cầu tăng cao, đặc biệt trong bối cảnh giá năng lượng ở châu Âu biến động mạnh.
Những yếu tố này cùng nhau tạo nên lợi thế cạnh tranh gió dệt cho Ấn Độ trong cung ứng nhiên liệu cho châu Âu,
nhất là trong bối cảnh Ả Rập Saudi bị giang buộc bởi các chính sách sản xuất của OPEC
và thiếu cơ hội mua dầu thô giá rẻ từ Nga.
Việc Ấn Độ trở thành nhà cung cấp nhiên liệu lớn nhất cho châu Âu
có thể khiến Ả Rập Saudi gặp một số khó khăn nhất định trong lĩnh vực kinh tế và chính trị.
Khi Ấn Độ cung cấp nhiên liệu tinh chế giá rẻ cho châu Âu,
điều này có thể dẫn đến việc giảm giá dầu và giảm doanh thu từ xuất khẩu dầu của Ả Rập Saudi.
Doanh thu từ dầu là nguồn thu chính cho ngân sách của Ả Rập Saudi,
và việc mất đi thị trường châu Âu có thể gây áp lực lớn lên nền kinh tế của nước này.
Ấn Độ có khả năng cung cấp nhiên liệu tinh chế với giá rẻ hơn
nhờ vào việc nhập khẩu dầu thô giá rẻ từ Nga.
Điều này có thể dẫn đến một cuộc cạnh tranh giá giữa Ấn Độ và Ả Rập Saudi,
buộc Ả Rập Saudi phải giảm giá để duy trì thị phần trên thị trường châu Âu.
Sự gia tăng vai trò của Ấn Độ trong việc cung cấp nhiên liệu
có thể thay đổi động lực chính trị trong khu vực.
Ả Rập Saudi có thể phải điều chỉnh các chính sách đối ngoại của mình
để đối phó với sự thay đổi này,
nhất là trong bối cảnh quan hệ với các nước phương Tây và các nước trong BRICS.
Thêm nữa, việc Ấn Độ chiếm ưu thế trên thị trường có thể dẫn đến căng thẳng
trong tổ chức OPEC, nơi mà Ả Rập Saudi là một thành viên chủ chốt.
OPEC có thể phải đối mặt với những thách thức trong việc duy trì sự ổn định của giá dầu
khi có sự cạnh tranh gia tăng từ các nhà cung cấp bên ngoài tổ chức.
Như vậy có thể thấy, việc Ấn Độ trở thành nhà cung cấp lớn cho châu Âu
có thể đặt Ả Rập Saudi vào một vị trí khó khăn,
vừa về mặt kinh tế, vừa về mặt chính trị,
khi nước này phải thích nghi với những thay đổi trong thị trường năng lượng toàn cầu.
Thay đổi này liên quan đến việc các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất, UAE,
đã để mắt tới một quốc gia sở hữu vị thế vàng ở châu Á, đó là Việt Nam.
Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển dự trữ dầu tiềm năng
Thưa quý vị, truyền thông Việt Nam đưa tin
UAE muốn xây dựng trung tâm trung chuyển dự trữ dầu tại Việt Nam.
Câu hỏi đặt ra là tại sao UAE lại chọn Việt Nam?
Là vì một số lý do chiến lược và kinh tế quan trọng sau đây.
Từ nhất, UAE đã xác định Việt Nam là một đối tác thương mại quan trọng trong khu vực ASEAN.
Việc xây dựng trung tâm dầu tại Việt Nam sẽ giúp họ tận dụng thị trường Đông Nam Á
đang phát triển mạnh mẽ, đồng thời gia tăng khối lượng thương mại ra hai nước.
Hiện tại, UAE là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong số các quốc gia Ả Rập.
Thứ hai, trung tâm dự trữ dầu tại Việt Nam sẽ giúp UAE mở rộng mạng lưới cung ứng và phân phối dầu,
tăng cường vị thế của họ trên thị trường năng lượng toàn cầu.
Điều này có thể giúp UAE giảm thiểu rủi ro trong việc vận chuyển dầu
từ các vùng bất ổn và tạo thuận lợi trong việc cung cấp năng lượng cho các quốc gia trong khu vực.
Thứ ba, với vị trí địa lý thuận lợi,
việc xây dựng trung tâm tại Việt Nam sẽ giúp UAE giảm chi phí vận chuyển dầu
tới các thị trường châu Á, đặc biệt là khi nhu cầu năng lượng
tại các quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ tiếp tục gia tăng.
Xét về mặt địa lý, Việt Nam có một số lợi thế địa lý quan trọng
để trở thành trung tâm năng lượng trong khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á,
gần các tuyến đường hàng hải quan trọng như là eo biển Malacca,
nơi diễn ra một phần lớn giao thương năng lượng toàn cầu.
Điều này giúp Việt Nam dễ dàng tiếp cận với các thị trường lớn như Trung Quốc,
Ấn Độ và các nước trong khu vực Asia.
Việt Nam cũng đang đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng giao thông và logistics,
bao gồm cả cảng biển và sân bay, để tăng cường khả năng vận chuyển năng lượng.
Các cảng biển lớn như cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn và cảng Đà Nẵng
có thể trở thành các trung tâm logistics năng lượng quan trọng,
hỗ trợ việc nhập khẩu và xuất khẩu dầu khí.
Bên cạnh đó, Việt Nam có chứa lượng dầu khí cũng khá là đáng kể,
đặc biệt là ở vùng biển phía Nam, giúp Việt Nam có khả năng cung cấp năng lượng
cho cả thị trường nội địa và xuất khẩu.
Việc phát triển các dự án năng lượng tái tạo cũng đang được đẩy mạnh,
nhằm đa dạng hóa nguồn cung năng lượng.
Chính phủ Việt Nam lại đang tích cực thúc đẩy các chính sách nhằm thu hút đầu tư
vào lĩnh vực năng lượng, bao gồm các ưu đãi về thuế và hỗ trợ phát triển hạ tầng.
Việc này đã tạo ra môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Hà Nội cũng đã thiết lập một mối quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia
và tổ chức quốc tế trong lĩnh vực năng lượng.
Điều này không chỉ giúp Việt Nam thu hút nguồn đầu tư,
mà còn cải thiện công nghệ và kinh nghiệm trong ngành năng lượng.
Nhờ vào những lợi thế này, Việt Nam có tiềm năng lớn để trở thành
một trung tâm năng lượng quan trọng trong khu vực Đông Nam Á,
đặc biệt là trong bối cảnh nhu cầu năng lượng đang tăng cao
và sự truyền dịch của các nhà cung cấp năng lượng truyền thống.
Việc này đối với Việt Nam mà nói thì sẽ hưởng nhiều lợi ích.
Chẳng hạn việc xây dựng trung tâm dự trữ có thể giúp Việt Nam
cải thiện khả năng kiểm soát và quản lý nguồn cung năng lượng,
từ đó tăng cường an ninh năng lượng cho quốc gia
trong bối cảnh nhu cầu năng lượng đang gia tăng.
Đồng thời, Việt Nam có thể củng cố vai trò của mình
như là một trung tâm logistics năng lượng tại khu vực Đông Nam Á.
Sự hiện diện của một trung tâm dự trữ giàu lớn
có thể thu hút thêm nhiều đầu tư vào cơ sở hạ tầng,
giao thông vận tải và dịch vụ logistics,
từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Việc hợp tác với UAE sẽ mở ra nhiều cơ hội
cho Việt Nam trong lĩnh vực thương mại và đầu tư.
UAE là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam
trong khu vực Ả Rập, và sự phát triển này có thể dẫn đến
việc tăng cường hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác
như là nông nghiệp, công nghiệp chế biến và năng lượng tái tạo.
Mặt khác, sự phát triển của trung tâm dầu mỏ sẽ tạo ra
nhiều cơ hội việc làm cho người dân Việt Nam,
không chỉ trong lĩnh vực xây dựng và vận hành trung tâm,
mà còn trong các ngành dịch vụ liên quan.
Điều này có thể góp phần vào việc nâng cao đời sống
và phát triển kinh tế bền vững tại các khu vực lân cận.
Trung tâm này có thể trở thành nên tảng cho các dự án hợp tác
trong lĩnh vực năng lượng giữa Việt Nam và UAE,
bao gồm năng lượng tái tạo và công nghệ sạch,
giúp Việt Nam tiến gần hơn tới các mục tiêu phát triển bền vững.
Vâng, quý vị thấy đấy,
Ấn Độ thì chiếm lính thị trường năng lượng châu Âu
và UAE thì chọn Việt Nam làm trung tâm năng lượng.
Những động thái này có thể tạo ra nhiều tốc độc đáng kể
đến thị trường năng lượng toàn cầu.
Sự gia tăng cung cấp nhiên liệu từ Ấn Độ
có thể tạo ra áp lực cạnh tranh lớn hơn
với các nhà cung cấp truyền thống như là Ả Rập Saudi.
Nếu Ấn Độ tiếp tục cung cấp nhiên liệu tinh chế giá rẻ cho châu Âu,
điều này có thể buộc các nhà cung cấp khác
phải điều chỉnh giá và chiến lược để giữ chân khách hàng.
Cũng như việc là UAE thiết lập trung tâm năng lượng tại Việt Nam
có thể thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng dầu và khí đốt trong khu vực.
Điều này không chỉ tạo ra một tuyến đường mới
cho việc phân phối năng lượng,
mà còn tạo cơ hội cho các nước trong khu vực Đông Nam Á
tham gia vào thị trường năng lượng toàn cầu.
Với việc Ấn Độ và UAE tích cực tham gia
vào thị trường năng lượng châu Âu và khu vực Đông Nam Á,
châu Á có thể trở thành một trung tâm năng lượng mới,
thu hút nhiều đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng.
Điều này có thể thay đổi cách thức mà các nước châu Âu
và các quốc gia khác tiếp cận nguồn cung năng lượng.
Từ đó, Liên minh châu Âu-EU cũng phải xem xét lại chính sách năng lượng của mình
để đảm bảo rằng họ có đủ nguồn cung năng lượng
từ các đối tác tin cậy như là Ấn Độ và UAE.
Điều này có thể dẫn đến việc mở rộng hợp tác năng lượng
với các quốc gia này và tạo ra các hiệp định thương mại mới.
Chưa kể tới việc Ấn Độ và UAE gia tăng ảnh hưởng trong thị trường năng lượng
có thể dẫn đến sự thay đổi trong mối quan hệ quốc tế
khi các quốc gia khác cố gắng thiết lập quan hệ hợp tác mới
với các nhà cung cấp năng lượng mới này để đảm bảo an ninh năng lượng của họ.
Tóm lại, sự truyền minh của Ấn Độ và UAE trong lĩnh vực năng lượng
không chỉ có ảnh hưởng đến thị trường châu Âu
mà còn tạo ra những thay đổi sâu sắc trong cấu trúc và động lực
của thị trường năng lượng toàn cầu.
Hẳn là quý vị đang thắc mắc là so sánh về nhu cầu năng lượng
thì thị trường châu Á và châu Âu sẽ khác nhau như thế nào?
Xét về nhu cầu năng lượng, châu Á đang chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng
chủ yếu do tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số.
Dự báo, nhu cầu năng lượng ở châu Á, đặc biệt là từ các quốc gia
như là Ấn Độ và Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng mạnh.
Trung Quốc hiện là quốc gia dẫn đầu trong việc tăng cường năng lượng tái tạo
nhưng vẫn cần một lượng lớn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch để đáp ứng nhu cầu.
Trong khi đó, Đông Nam Á cũng dự kiến là sẽ có nhu cầu năng lượng tăng trưởng mạnh
với dân số dự kiến sẽ đạt gần 800 triệu người vào năm 2050.
Còn ở châu Âu, nhu cầu năng lượng đang tăng trưởng chậm lại
do nền kinh tế chuyển hướng và các chính sách tiết kiệm năng lượng.
Châu Âu đang tìm cách giảm thiểu sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch
và đầy mạnh chuyên đổi sang năng lượng tái tạo
mặc dù vẫn cần một lượng lớn năng lượng từ khí đốt tự nhiên
và dầu mỏ trong ngắn hạng.
Về cấu trúc nguồn năng lượng, châu Á đang tìm kiếm nguồn cung năng lượng đa dạng hơn
từ việc phát triển năng lượng tái tạo đến khai thác các nguồn năng lượng truyền thống
như là than và khí tự nhiên.
Các dự án lớn về năng lượng tái tạo đang được thực hiện
nhưng đồng thời, một số quốc gia vẫn tiếp tục xây dựng các nhà máy điện than.
Còn các quốc gia châu Âu thì đang dần giảm bớt sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch
với mục tiêu đạt carbon trung tính.
Năng lượng tái tạo như gió và năng lượng mặt trời
đang chiếm một phần lớn trong tổng sản lượng điện
và các quốc gia như Đức và Pháp đang tích cực đầu tư vào công nghệ năng lượng sạch.
Về đầu tư năng lượng, các khoản đầu tư ở châu Á còn hạn chế
so với nhu cầu ngày càng tăng.
Dự báo cho thấy đầu tư cần tăng lên từ khoảng 72 tỷ USD hiện tại
lên hơn 130 tỷ USD hàng năm để đáp ứng nhu cầu năng lượng bền vững.
Ngược lại, châu Âu đang tập trung vào việc chuyển đổi năng lượng,
đã đầu tư mạnh vào các công nghệ năng lượng tái tạo
và cải thiện hiệu xuất năng lượng.
Sự gia tăng nhu cầu năng lượng ở châu Á và sự chuyển đổi của châu Âu
sang năng lượng tái tạo đã mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia xuất khẩu năng lượng,
đặc biệt là những quốc gia có nguồn tài nguyên dầu mò và khí đốt phong phú
như là Ả Rập Saudi, UAE hay cả Nga nữa, đặc biệt là Việt Nam,
khi đó đang đóng vai trò là trung tâm năng lượng,
có thể hướng đến việc cung cấp năng lượng cho nhiều thị trường quan trọng khác nhau.
Đầu tiên là Trung Quốc, với nhu cầu năng lượng lớn nhất khu vực.
Trung Quốc là một trong những thị trường tiềm năng hàng đầu cho Việt Nam.
Việt Nam có thể xuất khẩu dầu mò và khí đốt sang Trung Quốc,
đặc biệt là khi họ đang tìm cách đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của mình.
Ấn Độ cũng đang trên đà phát triển mạnh mẽ
và nhu cầu năng lượng của nước này đang gia tăng nhanh chóng.
Việc thiết lập một trung tâm năng lượng ở Việt Nam
có thể giúp đáp ứng nhu cầu này thông qua xuất khẩu năng lượng tinh chế.
Việt Nam còn có thể phục vụ các nước láng giềng trong khu vực như là Thái Lan,
Malaysia và Singapore.
Các quốc gia này cũng đang gia tăng nhu cầu năng lượng
và có thể tìm kiếm các nguồn cung cấp từ Việt Nam.
Bên cạnh đó, các quốc gia sản xuất dầu ở Vịnh Ba Tư
như là Ả Rập Saudi và UAE
có thể tìm kiếm các mối quan hệ hợp tác
trong việc phân phối năng lượng thông qua Việt Nam.
Trung tâm năng lượng tại Việt Nam có thể trở thành điểm trung chuyển
cho năng lượng từ các quốc gia này đến các thị trường châu Á.
Mặc dù châu Âu đang chuyển dịch sang năng lượng tái tạo,
nhưng nhu cầu về năng lượng hóa thạch
vẫn còn tồn tại trong ngắn hạn.
Việt Nam có thể kết nối với các thị trường châu Âu
thông qua các mối quan hệ thương mại năng lượng,
đặc biệt nếu châu Âu tìm kiếm các nguồn cung cấp
đáng tin cậy và ồn định hơn.
Tóm lại, Trung tâm năng lượng tại Việt Nam
có tiềm năng phục vụ nhiều thị trường khác nhau,
giúp tăng cường sự hiện diện của Việt Nam
trong lĩnh vực năng lượng khu vực và toàn cầu.
Nhìn chung khi xu thế xoay trục sang châu Á,
một lục địa đang phát triển,
trong sự phân chia thị trường năng lượng.
Nó có thể mang tới những thách thức
cho một số quốc gia,
nhưng mà cũng mang lại nhiều cơ hội
cho các quốc gia khác,
như là Việt Nam chẳng hạn.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay của chúng tôi
cũng xin phép được tạm dừng.
Xin mời quý vị để lại bình luận ở phần dưới.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
