LSVN- P2/4 - Nhà Lý, Nhà Trần

Kẻ Học Trò
777 Người theo dõi
239 Lượt xem video·4 thg 11, 2024
Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp từ Sơn, Bắc Ninh.
Công Uẩn không có cha, mẹ La Phạm Thị, khi lên 3 tuổi được đem cho người xưa ở chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn làm con nuôi.
Công Uẩn lớn lên vào Hoa Lưu làm quan nhà Tiền Lê, đến trước điện tiền chỉ huy xứ.
Năm 1009, khi Lê Long đĩnh mất thì Lý Công Uẩn đã ngoài 35 tuổi.
Bây giờ lòng người đã oán dận nhà Tiền Lê, triều thần trong đó có đảo Cam Mộc và thiền sư Vạn Hạnh.
Tôn Lý Công Uẩn lên làm vua, tức là vua Lý Thái Tổ.
Thái Tổ thấy đất Hoa Lưu chật hẹt không có thể mở mang ra làm chỗ đô hội được, men định rời đô về La Thành.
Năm 1010 thì khởi sự rời đô.
Khi ra đến Đại La, Thái Tổ lấy cớ có điểm trông thấy rồng vàng bay lên, men đổi Đại La thành Thăng Long.
Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi thì sai sứa sang nước Tống Cổ Phong, vua Tống Liền Phong cho làm giáo chỉ Quận Vương, lại sai người sang lấy Kinh Tam tạm đem về.
Những cuộc phản nghiệp trong nước, nhà vua thân trinh đi đánh dẹp.
Các hoàng tử đều được phong vương và phải cầm quân đánh giặc nên đều dòi Việt binh.
Nhà vua lưu tâm việc sửa sang trong nước, chia đất nước làm 24 lộ, đặt ra 6 thư thuế và cho người trông coi việc trưng thu thuế ấy.
Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Tướng Chí, đem quân vào chiếm đóng Châu Vị Long và Châu Đô Kim.
Vua Lý Thái Tổ sai dực Thánh Vương đi đánh dẹp quân Đại Lý Đại Bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sát nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Việt.
Năm 1028, Lý Thái Tổ mất trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi.
Thái Tổ vừa mất chưa tế Táng Song thì các hoàng tử là Võ Đức Vương.
Dực Thánh Vương và Đông Trinh Vương đã đem quân đến vây Hoàng Thành để tranh ngôi, của Thái Tử, sự gọi là Loạn Tam Vương.
Khi quân của Thái Tử và quân các Vương đối trận, tướng quân Lê Phụng Hiểu Sông vào chém Võ Đức Vương ở Trận Tiền.
Các hoàng tử kia thấy vậy sợ hãi chạy trốn, Thái Tử phận mã lên ngôi tức vua Lý Thái Tông.
Dực Thánh Vương và Đông Trinh Vương xin về chịu tội, Thái Tông nghĩ tình cốt nhục bền tha tội và phục chức cho cả hai người.
Thái Tông là người có tài thao lược, giỏi việc dùng binh, giặc dã nổi lên trong nước và biên giới, ngày đều thân chinh đi đánh dẹp.
Nhà vua lên ngôi được hơn 15 năm mà nước Chiêm Thành không chịu cống xứ, lại hay quấy nhiễu ngoài biển, ngai bền sửa binh thuyền sang đánh vào năm 1044.
Quân Chiêm Thành thua chạy, quân ta bắt được hơn 5.000 người và 30 con voi.
Thái Tông là người thực lòng thương dân, hễ năm nào đói kém hay là đi đánh giặc về, thì lại giảm thuế cho hàng 2-3 năm.
Năm 1054, Lý Thái Tông qua đời, chị vì được 27 năm, thọ 55 tuổi.
Thái Tử Nhật Tôn lên ngôi tức là vua Lý Thánh Tông, đổi quốc hiệu là Đại Việt.
Thánh Tông là một ông vua nhân từ, có lòng thương dân cho nên trăm họ mến phục, trong đời ngài làm vua ít có giặc dã.
Nước Chiêm Thành hay sang quấy nhiễu, ngài Thân Chinh đi đánh, bắt được vua Chiêm là chế củ.
Chế củ sinh dân đất Ba Châu là địa Lý, Ma Linh và Châu Bố Chính để trục tội.
Thánh Tông lấy Ba Châu ấy và cho chế củ về nước.
Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, làm vua được 17 năm, thọ 50 tuổi.
Thái Tử Cán Đức là con bà Nguyên Phi ỉ Lan, lên đối ngôi khi mới 7 tuổi tức vua Lý Nhân Tông, phong cho mẹ là Thái Phi.
Vua quan tâm việc sửa sang trong nước, cho đáp đề ngăn lũ, mở khoa thi để chọn người tài, lập quốc tử giám để bổ người văn học vào dạy, chia phẩm hàm quan văn võ từ Trung ương đến các châu quận.
Từ nhà Đinh, nhà Lê trở đi, tuy Trung Quốc không sang cai trị nước ta nữa, nhưng vẫn cứ làm le có ý muốn xâm lược.
Đến khi vua Tống Thần Tông, nước Tống bị liều và Tây Hạ y hiếp, hàng năm phải đem vàng bạc và lụa vải sang cống, trong nước thì dối loạn, dân chúng oán hận bởi những cải cách của Tế Tướng Vương An Thạch.
Vương An Thạch muốn xâm lược nước ta để giải tỏa những căng thẳng ấy, và lại để tỏ công hiệu việc cải tổ của mình, bèn tâu với vua Tống.
Vua Tống nghe lời tâu ấy, sai thầm khởi sửa soạn việc xuất quân, sau này thay bằng Lưu Di.
Lưu Di lập đồn lũy, sửa binh khí, làm thuyền bè và cấm mọi việc buôn bán giữa các biên dân Việt Trung, vì sợ bị do thám.
Đặc biệt, nhà Tống biến Ung Châu thành một căn cứ để xuất phát đánh Đại Việt và giao cho Tô Giám, chỉ huy căn cứ này.
Mặc dù Tống giữ bí mật nhưng Đại Việt vẫn nắm được ý đồ của quân Tống.
Đặc biệt năm 1073, một tiến sĩ nhà Tống là, từ Ba Tường vì không được chọn dụng nên đã thông báo với nhà Lý, hiện nay Trung Quốc muốn cử binh diệt giao chỉ.
Theo bình pháp dạy, trước khi người có bụng cướp mình thì chi bằng mình đánh trước, lúc nào quân Đại Vương vào đánh, Ba Tường xin làm nội ứng.
Hai huy Lý Thường Kiệt chủ trương thực hiện một chiến lược đánh đòn phủ đầu, nên quyết định tập trung quân Bắc Tiến.
Năm 1075, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem 10.000 quân thủy bộ chia làm hai đạo Tiến sang đất Tống.
Đạo quân của Tôn Đản sang đánh các tiền đồn biên giới rồi tiến đến Ung Châu, Lý Thường Kiệt đem thủy binh về đánh Khâm Châu và Niêm Châu rồi, cũng tiến lên về thành Châu Ung.
Tô Giám chỉ có 2.800 quân đã áp dụng chiến lược cố thủ và xin quân cứu hiện.
Quan Đô Giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết đem binh tới cứu, nhưng bị Lý Thường Kiệt đón đánh ở Ải Phôn Lôn, Trương Thủ Tiết bị chém ở Trận Tiền.
Quân Đại Việt vây thành Ung Châu hơn 40 ngày, đến khi hạ được thì Tô Giám bắt tất cả 36 người nhà chết trước cử tự sát, dân trong thành bắt trước quan chi Châu không ai chịu hàng, quân Đại Việt vào thành giết hại đến 58.000 người.
Tổng cộng trong chiến dịch bắt phạt lần này, của Lý Thường Kiệt đã giết hại đến 10.000 người, rồi lại bắt người lấy quả đem về nước.
Tống triều được tin quân nhà Lý sang đánh lấy làm tức giận, bèn sai quách quỳ làm đạo triều Thảo Sứ, và triệu Tiết làm khó chia đường sang đánh nước ta.
Năm 1076, một đạo quân Tống, do quách quỳ chỉ huy xuất phát từ Ung Châu theo đường Bộ Tiến vào phía Bắc Đại Việt, một đạo quân Thủy, do Dương Tùng Tiên chỉ huy từ Liêm Châu đi đường Biển Tiến vào sông Bạch Đằng.
Phía Đại Việt, sau chiến dịch đánh phủ đầu thành công đã có sự chuẩn bị đối phó quân Tống sang đánh.
Tướng Lý Kế Nguyên chịu trách nhiệm đánh đạo thủy quân Tống, lập trận mai phục ở sông Bạch Đằng, còn Lý Thường Kiệt sẽ ngăn đạo quân bộ của đối phương, ông lập phòng tuyến bên bờ nam sông Như Nguyệt bằng các chiến lũy đất đóng cọc tre.
Lục quân Tống tràn qua biên giới, nhanh chóng vượt qua các tiền đồn của ta và đối mặt với phòng tuyến của Lý Thường Kiệt, quách quỳ tổ chức hai đợt vượt sông tấn công, nhưng đều thất bại nên đành đợi thủy quân đến.
Đạo thủy quân của Dương Tùng Tiên vừa vào đến sông Bạch Đằng, khi bị quân của Lý Kế Nguyên mai phục tập kích dữ dội không bị tiếp được, phải quay ra độ thuyền ở cửa biển.
Sau hai tháng bị cầm chân ở phòng tuyến Như Nguyệt, quân Tống có dấu hiệu mệt mỏi, Lý Thường Kiệt tổ chức phản công và giành thắng lợi, sau đó ông Sai Sứ sang trại của quách quỳ giảng hóa.
Quách quỳ đang ở thế khó, quân sĩ đã chết quá nửa, số còn lại thì ốn đau bệnh tật, lương ăn đã cạn, nhận cơ hội đó liền đồng ý giúp quân về, Dương Tùng Tiên đang ở cửa biển cũng được lệnh nuôi về Niêm Châu.
Như vậy cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai đã hoàn toàn thắng lợi.
Năm 1103, ở phía Nam vua Chiêm Thành là chế Mana mang quân sang giành lại Ba Châu, mà chế cũ đã nhường cho nhà Lý ngày trước, Lý Thường Kiệt khi đó đã ngoài 70 tuổi vẫn cầm quân đi đánh, chế Mana vua chạy xin trả lại Ba Châu như cũ.
Từ khi thu phục được nước Chiêm, các nước phía Nam đều về chiều cống.
Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành về được một năm thì mất, ông là người có tài thao lược, bắt phá Tống, Nam Bình Chiêm, thật là một danh tướng của nước ta.
Nhân Tông làm vua đến năm 1127 thì mất, chỉ vì 56 năm, thọ 63 tuổi, vùi Nhân Tông không có con, lập con của hoàng đệ là Sùng Hiền Hầu lên làm thái tử, nay lên đối ngôi tức là vua Lý Thần Tông.
Bấy giờ trong chiều có các đại thần là Trương Bá Ngọc, Dương Anh Nhị, Lưu Khánh đàm giúp Thần Tông chỉ nước nên trong nước được thái bình, giặc giã cũng ít.
Nhà vua thực hiện chính sách mụ binh ư nông, cho binh lính đổi phiên cứ lần lượt 6 tháng 1 được về làm ruộng, do vậy nhân dân no đủ, an cứ lạc nghiệp.
Thần Tông chỉ vì 10 năm, đến năm 1138 thì mất, thọ 23 tuổi.
Lý Thần Tông mất, thái tử Thiên Tổ lên ngôi lúc mới 3 tuổi tức là vua Lý Anh Tông, thái hậu là Lê Thị cầm quyền nhấp chính.
Lê thái hậu lại tư thông với độ anh vũ, cho nên phàm việc gì bất cứ lớn nhỏ đều ở tay độ anh vũ quyết đoán cả.
May nhờ thời bấy giờ có nhiều tôi giỏi như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền, Lý Công Tín làm quan đại chiều cho nên độ anh vũ không dám có ý khác.
Tô Hiến Thành giúp vua đi đánh dẹp, lập nhiều công lớn, được phong làm trực thai uy coi giữ việc binh.
Ông luyện tập quân lính, kém chọn những người tài để làm tướng.
Bởi vậy binh thế nhà Lý lúc bây giờ hùng mạnh.
Năm 1159, nhân khi nước đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất
của các tù trường dân tộc thiểu số người Thái ở Yên Bái, Lào Cai vào lãnh thổ đại Việt.
Tô Hiến Thành giỏi việc võ mà lại chăm việc văn.
Ông xin vua khai hóa việc học hành, và làm đền thờ Đức Khổng Tử ở cửa Nam Thành Thăng Long, để tỏ lòng mội nho học.
Năm 1175, anh Tông cho Tô Hiến Thành làm thái phó và phong tức vương, ủy thác thái tử Long cắn lúc đầu ốm.
Đến năm 1176, vua anh Tông mất chỉ vì được 37 năm, thọ 40 tuổi.
Lý Anh Tông mất, thái tử Long cắn lúc đó chưa đầy 3 tuổi.
Bà Triều Linh Thái Hậu muốn lập con cả của mình là Long Sưởng lên ngôi vua.
Bà đem vàng bạc đút lót cho vợ Tô Hiến Thành.
Nhưng Tô Hiến Thành nhất định không nghe, cứ theo di chiếu lập Long cắn lên làm vua, tức là Lý Cao Tông.
Tô Hiến Thành giúp vua Cao Tông trị nước, đến năm 1179 thì mất.
Ông không những là người có tài thao lượng, dẹp giặc yên dân,
mà còn, là bề tôi Trung Nghĩa nên người đời sao thường ví với ra các lượng thời Tam Quốc bên Tàu.
Cao Tông lớn lên chơi bời vô độ, trong chiều vua tôi không ai lo nghĩ việc nước,
chỉ làm những việc nhũng lạm, mua quan bán chức, hả hiếp nhân dân,
lấy tiền để làm những việc xa xỉ.
Phía Bắc thì bên Tàu quấy nhiễu, phía Nam thì người chiêm sang đánh,
trong nước giặc cướp nổi lên như ong, có lúc giặc vào đến Hoàng Thành,
vua cùng Thái Tử sẵn phải chạy trốn.
May nhờ có họ Trần bộ binh dẹp loạn mà về được Kinh Thành.
Năm 1210, Lý Cao Tông mất, chỉ vì 35 năm, họ 38 tuổi.
Thái Tử sẵn lên ngôi tức là vua Huệ Tông, rồi sai người đi giúp Trần Thị Dung về làm Hoàng Hậu,
phong cho em của Trần Thị Dung là Trần Tự Khánh làm Trương Tín Hầu
và cho người cậu là Thuận Lưu Bá làm Thái Úy.
Huệ Tông phải bệnh, thỉnh thoảng có cơn điên, rồi cứ uống rượu say cả ngày,
việc chính trị đều ở Tây Tự Khánh quyết đoán cả.
Khi Tự Khánh mất, Huệ Tông phong cho Trần Thừa làm Thái Úy
và cho người em họ của Hoàng Hậu là Trần Thù Độ làm điện tiền chỉ huy sứ.
Từ đó quyền hành dần rơi vào tay họ Trần.
Huệ Tông không có con trai.
Hoàng Hậu Trần Thị Dung chỉ sinh được hai con gái.
Con gái lớn là Thuận Thiên công chúa đã gà cho Phụng Kiều Vương Trần Liễu.
Công chúa thứ hai là Phật Kim, công chúa Triều Thánh, được làm thái tử.
Năm 1224, dưới sự đạo diễn của Trần Thù Độ,
Lý Huệ Tông bị ép đi tu, nhường ngôi vua cho con gái là công chúa Triều Thánh,
lúc đó mới 7 tuổi, tức là Lý Triều Hoàng.
Quyền chính ở cả tay của Trần Thù Độ.
Cũng dưới sự đạo diễn của Trần Thù Độ, Trần Cảnh, 8 tuổi,
là con ông Trần Thừa được đưa vào hầu cận Lý Triều Hoàng.
Năm 1225, Triều Hoàng lấy Trần Cảnh rồi truyền ngôi cho chồng.
Nhà Lý đến đây là hết, làm vua cả thầy 216 năm,
truyền ngôi được 9 đời.
Nhà Lý có công làm cho nước Nam ta trở nên cường thị,
ngoài thì đánh nước tàu, bình nước chiêm,
trong thì chỉnh đốn võ bị, sửa sang pháp luật, xây vững nền tự chủ.
Vì vua Cao Tông hoang chơi, làm bất lòng người,
cho nên giặc giã nổi lên, loạn thân nhiễu sự.
Vua Huệ Tông lại nhu nhược bỏ bê chính sự,
đem Giang Sơn phó thác cho người ngoại tộc,
khiến cho kẻ gian hùng nhân dịp,
mà lấy Giang Sơn nhà Lý và lập ra cơ nghiệp nhà Trần vậy.
Năm 1225, Trần Cảnh lên làm vua,
tức là Trần Thái Tông, phong cho Trần Thủ Độ làm thái sư.
Bây giờ vua Thái Tông mới có 8 tuổi,
việc gì cũng trong tay Trần Thủ Độ cả.
Thủ Độ tuy là một người không có học vấn nhưng là một tay gian hùng,
chú ý cốt gây dựng cơ nghiệp nhà Trần cho bền chặt,
cho nên dẫu việc tàn bạo đến đâu cũng làm cho được.
Lý Huệ Tông tuy đã xuất ra ở chúa rồi
nhưng Thủ Độ vẫn định bụng giết đi, cho khỏi sự lo về sau.
Một hôm Huệ Tông ngồi nhổ cỏ ở sân Chùa Chân Giáo,
Thủ Độ đi qua trông thấy, mới nói rằng,
nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ của nó đi.
Huệ Tông nghe thế, hủy tay đứng dậy nói rằng,
nhà ngươi nói ta hiểu rồi.
Mấy hôm sau, Huệ Tông thắt cổ tự tận.
Thủ Độ đưa bách quan đến tê khóc xong rồi hòa táng,
trôn ở tháp bảo quang, Thủ Độ hại Huệ Tông rồi
trừ nốt các tôn thất còn lại của nhà Lý.
Trần Thủ Độ chỉ lo làm thế nào cho ngôi nhà Trần được vững bền,
cho nên không những là tàn áp với nhà Lý,
đến luân thường ở trong nhà cũng làm loạn cả.
Thái hậu Trần Thị Dung bị ráng xuống làm thiên cực công chúa
để gà cho Trần Thủ Độ.
Trần Thủ Độ và thiên cực công chúa là hai chị em họ.
Triều Thánh Hoàng hậu lấy Thái Tông đã được 12 năm mà vẫn chưa có con,
Thủ Độ bắt Thái Tông bỏ đi và ráng xuống làm công chúa,
rồi đem người chị của Triều Thánh tức là vợ Trần Liễu vào làm Hoàng hậu,
bởi vì người chị đã có thay được 3 tháng.
Làm loạn nhân luân như thế thì từ Thượng Cổ mới có một.
Trần Liễu tức giận, đem quân làm loạn.
Vua Thái Tông bị Thủ Độ hiếp chế như thế,
trong bụng cũng không yên, trốn lên Chùa Phù Vân trên núi Yên Tử.
Trần Thủ Độ biết tin ấy, đem quần thần đi đám Thái Tông về.
Thái Tông không chịu về, nói rằng chẳng còn nhỏ dại,
không kham nổi việc lớn, các quan nên chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc.
Thủ Độ nói mãi không nghe, ngoành lại bảo bá quan rằng
Hoàng Thượng ở đâu là triều đình ở đấy.
Nói đoạn truyền sắp sửa xây công điện ở Chùa Phù Vân.
Quốc sư ở chùa ấy thấy vậy, vào văn lại Thái Tông về triều.
Thái Tông bắt đắc dĩ truyền xa giá về Kinh.
Được ít hôm, Trần Liễu nhận thấy quân mình yếu thế không thể chống lại triều đình.
Bèn trơ lúc Thái Tông đi thuyền qua sông Cái, rồi cài trang làm người đánh cá,
đi thuyền độc mộc đến chỗ thuyền ngự để đầu hàng.
Hai anh em ôm nhau mà khóc, Trần Thủ Độ thấy vậy rút luôn toàn chén Trần Liễu.
Nhưng Thái Tông lấy thân mình bảo vệ cho anh, rồi khuyên Trần Thủ Độ thu quân.
Nhà vua còn cấp cho Trần Liễu đất Thái ấp, phong tước yên sinh vương.
Nước ta từ khi vua Cao Tông nhà Lý thấp chính, trong nước nhiều giọt dã,
Trần Thủ Độ sau khi đã thu xếp xong việc khớp ngôi nhà Lý rồi,
mới đem quân đi đánh dẹp, ít lâu sau đều dẹp yên được.
Từ khi Thái Tông lên làm vua, nước Chiêm Thành đã sang cống tiến,
nhưng thường vẫn sang cướp phá, và cứ đòi lại đất cũ.
Thái Tông lấy làm tức giận, bèn sửa soạn đi đánh Chiêm Thành.
Năm 1252, Ngài Ngự Giá Thân Trinh đi đánh, bắt được người, lấy được của mang về rất nhiều.
Trong khi nhà Lý mất ngôi, nhà Trần lên làm vua ở nước ta,
thì nhà Tống bên tàu bị quân Mông Cổ đánh phá.
Người Mông Cổ hung tợn mà lại có tính hiếu chiến,
người nào cũng giỏi cưỡi ngựa, bắn tên.
Quân sĩ thường là kỵ binh, mà sắp xếp có trật tự,
và người nào cũng tinh nghề chiến đấu.
Bởi thế mà thành các tư hãn sau khi tập hợp thành công các bộ tộc người Mông,
đã chiếm giữ được nhiều vùng đất từ châu Á đến châu Âu.
Đến năm 1257, đời đại hãng thứ ba tức Mông Kha,
có sai một đạo quân do Ngột Lương Hợp Thái chỉ huy sang đánh Đại Lý.
Sau khi chiếm được nước Đại Lý, Ngột Lương Hợp Thái gửi thư sang chiêu hàng Đại Việt.
Thái Tông không những không chịu, lại bắt giam sứ Mông Cổ,
rồi sai Trần Quốc Tuấn đem binh lên giữ ở phía Bắc.
Cuối năm 1257, Ngột Lương Hợp Thái dẫn năm vạn quân sang tấn công Đại Việt.
Trần Quốc Tuấn ít quân đánh không nổi, phải nuôi về Sơn Tây.
Quân chủ lực nhà Trần do đích thân vua Trần Thái Tông chỉ huy 7 trận đội giặc ở Bình Lễ Nguyên.
Quân Mông Cổ qua sông phá trận, quân Trần kháng cửa rất quyết liệt nhưng không đánh lại,
phải nuôi về Phủ Lỗ.
Ở đây hai bên lại chạm chán nhau một lần nữa, quân Trần vẫn tiếp tục thức lợi, phải rút nuôi.
Sau đó, nhà Trần thực hiện kế sách vườn không nhà chống,
chủ động rút khỏi thăng long, nhân dân cũng được lệnh di tản.
Do chiến lược đánh nhanh thắng nhanh mà quân Mông Cổ không mang theo lương thực,
khi đánh vào lãnh thổ đối phương thì sẽ cướp lương ở những nơi chiếm giữ được.
Tuy nhiên sau khi chiếm được Kinh Đô lại chỉ là một kho tàng chống rỗng
do nhà Trần đã có sự chuẩn bị từ trước, quân Mông dần rơi vào tình trạng thiếu lương.
Nhận thấy quân địch đã suy yếu, nửa đêm ngày 28 tháng 1 năm 1258,
vua Trần Thái Tông mở cuộc phản công vào quân Mông Cổ đang đóng ở Đông Bộ Đầu.
Bị tập kích bất ngờ, quân Mông thua to, phải rút khỏi Kinh thành thăng long.
Khi chạy đến Quy Hóa thì bị chủ trại là Hà Bổng tập kích một lần nữa, chạy dài về Vân Nam.
Cuộc thắng chiến chống quân Mông nguyên lần thứ nhất hoàn toàn thắng lợi.
Mùa xuân năm 1258, Thái Tông nhiều ngôi cho Thái Tử Hoàng để dạy bảo mọi việc về cách trị nước
và đề phòng ngày sau anh em không tranh giành nhau.
Triều Đình tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng Hoàng để cùng coi việc nước.
Thái Tử Hoàng lên ngôi, tức là vua Trần Thánh Tông.
Ông là một vị vua nhân từ, trung hậu, ở với anh em họ hàng rất tử tế.
Thường hay nói rằng, thiên hạ là của ông cha để lại, nên để cho anh em cùng hưởng phù quý chung.
Rồi cho các hoàng thân vào nội điện cùng ăn một mâm, nằm một giường, thật là thân ái.
Chỉ có lúc nào ra việc công, hoặc buổi trầu thì mới phân thứ tự theo lễ phép mà thôi.
Còn việc nước thì thật ngài có lòng lo giữ cho dân được yên trị.
Trong 21 năm, ngài làm vua không có giặc giã gì cả.
Thánh Tông lại bắt các vương hầu phải triêu tập những người nghèo đói lưu lạc để khai khẩn đất hoang làm ruộng.
Việc học hành cũng được mở mang thêm.
Trong nước tuy được yên, xong việc giao tiệp với phương Bắc ngày mùa khó thêm.
Bây giờ Mông Cổ đã đánh được nhà Tống rồi, chỉ trực xâm lược Đại Việt.
Nhưng vì trước tướng Mông Cổ đã đánh thua một lần, và trong nước tàu vẫn chưa được yên,
cho nên vua Mông Cổ muốn dụng kế dụ vua Trần sang Hàng Phục để khỏi phải dùng binh.
Vậy nên cứ vài năm lại cho sứ sang sách nhũ điều nọ điều kia,
và dụ vua Trần sang trầu, nhưng vua ta cứ lần khất mãi, không chịu đi,
rồi một mặt tuyển mộ quân sĩ sửa soạn phòng bị.
Năm 1277, Trần Thái Tông mất, chỉ vì 33 năm, làm Thái Thượng Hoàng được 19 năm, thọ 60 tuổi.
Đến năm 1278, Thánh Tông nhường ngôi cho Thái Tử Khâm, rồi về ở thiên trường làm Thái Thượng Hoàng.
Thái Tử Trần Khâm lên làm vua, tức là Trần Nhân Tông.
Lúc bấy giờ sứ nhà Nguyên đi lại hạch sách nhiều điều, triều đình cũng có lắm việc bối rối.
Nhưng nhờ có Thánh Tông Thượng Hoàng còn coi mọi việc, và các quan triều đình nhiều người có tài trí.
Nhân Tông lại là ông vua thông minh, quả quyết,
mà người trong nước thì từ vua quan cho đến dân thường đều một lòng cả.
Cho nên từ năm 1285 đến năm 1288 hai lần quân Mông Cổ sang đánh mà không được.
Sau nhiều lần sai sứ sang sách nhũ không thành,
hốt tất liệt phong con trai thu chiến của mình là thoát hoàn làm chấn Nam Vương,
cùng bọn Toa Đô và Ô Mã Nhi dẫn 50 vạn quân,
ra kiếm ngược đường đi qua nước Nam sang đánh Chiên Thành.
Thế Đại Việt, các vâng tô nhà Trần được lệnh tuyển thêm quân vào các lực lượng riêng của mình.
Vua Trần đã triệu tập một hội nghị quân sự tại Bình Thanh để bàn kế chống giữ.
Trần Quốc Tuấn được công làm quốc công tiết chế,
thống lĩnh tất cả các lực lượng vũ trang của Đại Việt.
Đại Việt sử phí toàn thư chép việc Trần Quốc Toàn,
vì nhỏ tuổi không được giữ hội nghị Bình Thanh đã tức giận bóp nát quả cam.
Sau đó Quốc Toàn lui về, huy động hơn nghìn gia nô và người nhà thân thuộc,
xăm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ,
phá cường địch, báo hoàng ân, rồi đem quân đi đánh giặc,
đánh chỗ nào giặc cũng phải lui.
Năm 1284, Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đã mời những bố lão trong cả nước
về Điện Diên Hồng, ở Kinh Đô Thăng Long để trình bày chủ trương của triều đình.
Trong hội nghị Diên Hồng, khi được vua hỏi có nên đánh lại quân nguyên hay không,
các cụ lão đã vạn người cùng nói như từ một miệng đánh.
Đầu năm 1285, quân Nguyên chia ra làm ba đạo,
một đạo do tướng Mông Cổ là Toa Đô đem 10 vạn quân đang xâm lược Chiêm Thành
đánh lên từ phía nam, đạo thứ hai do nạp tốc Lạt Đinh từ Vân Nam
vào Đại Việt qua vùng Tuyên Quang tiến theo sông Chảy,
còn thoát hoan thì kéo đại binh đến Ải Nam Quan.
Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn phân binh giữ Ải Khả Lý và Chi Lăng còn mình,
thì tự dẫn quân đi đóng giữ Ải Nội Bàng.
Thoát hoan thấy hưng đạo Vương giữ cả các nơi,
bèn chia quân ra đánh và nhanh chóng vượt qua các tiền đồn rồi bao vây Ải Nội Bàng.
Quân Trần kém thế phải lui về vạn kiếp,
các tướng thu nhặt tàn quân dần dần cũng kéo về đấy cả.
Tại đây Trần Quốc Tuấn đã viết ra bài hịch tướng sĩ để cổ vũ tinh thần quân sĩ.
Các tướng sĩ được lời khuyên rằng ấy,
ai nấy hết lòng luyện tập quyết trí đánh giặc,
cho nên người nào cũng lấy mực tích vào cánh tay hai chữ sát thát,
nghĩa là giết quân Mông Cổ.
Khi thoát hoan lấy xong các ải ở Lạn Sơn rồi,
quân Nguyên dựng chạy bên sông Hồng.
Quân Trần cũng lập các chiến lưỡi bằng gỗ bên bờ bắc sông Hồng nguyên chiến.
Mục đích của quân Trần trong trận này,
chỉ là cản bước quân Nguyên để thiệt sơ tán Hoàng gia và dân chúng khỏi Kinh Thành,
thực hiện kế hoạch vườn không nhà chống.
Sau khi thành Thăng Long đã chống không,
quân Trần lên thuyền xuôi sông Hồng rút nuôi.
Thoát hoan và Thành chỉ thấy không thúc nhãn không,
nên sai tướng chia hai đường thủy bộ đuổi theo vua Trần.
Đạo quân thứ hai của Nạp Tốc Lạt đình tiến đến chạy khu vật
khi bị quân của Trần Nhật Duật chặn đánh.
Tuy nhiên do đại quân đã rút khỏi Thăng Long
nên Trần Nhật Duật cũng nuôi quân.
Toà Đô là cứng đạo thứ ba quân Nguyên,
đi đường biển sang đánh Chiêm Thành,
nhưng mà quân nước Chiêm giữ được các đường biển yếu,
đánh mãi không được.
Nguyên Chúa Hạ Chiếu sai Toà Đô theo đường bộ kéo ra mặt Nghệ An,
hợp với quân thoát hoan để đánh Đại Việt.
Thoát hoan sai ô mãi nhì đi đường biển và tiếp ứng.
Bây giờ Hưng Đạo Vương đưa xa giá xuống thiên trường,
nghe Toà Đô từ vùng trong kéo ra.
Hưng Đạo Vương tâu vua sinh sai thượng tướng Trần Quang Khải đưa binh
vào đóng mặt Nghệ An chặn giữ
và sai Trần Bình Trọng ở lại giữ thiên trường cự nhau với quân thoát hoan,
rồi rước xa giá ra Hải Dương.
Trần Quang Khải vào đến Nghệ An, chia quân phòng giữ,
nhưng mà quân nhà Nguyên thế mạnh,
đi đến đâu đánh tan đến đây Quang Khải đương không nổi,
khẳng lưu quân ra mặt ngoài.
Còn quan chấn thủ Nghệ An là Trần Thiện đem cả nhà ra hàng Toà Đô.
Ở thiên trường, Trần Bình Trọng thấy quân nhà Nguyên
đã đến bãi Đà Mạc liền đem binh ra đánh,
nhưng chẳng may bị vây, phải bắt.
Quân Nguyên đưa Bình Trọng về nộp cho thoát hoan.
Thoát hoan thấy Bình Trọng là tướng khỏe mạnh,
muốn khuyên rỗ về hàng, hết đãi cho ăn uống,
nhưng Bình Trọng không ăn, rỗ dành hỏi giỏ việc nước,
Bình Trọng cũng không nói.
Sau thoát hoan hỏi rằng, có muốn làm vương đất Bắc không?
Bình Trọng quát lên rằng, ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc.
Thoát hoan thấy rỗ không được, sai quân đem chén.
Hưng Đạo Vương thấy tình thế nguy cấp,
đưa hai vua Trần từ thiên trường dùng thuyền qua cửa giao hải đi ra biển,
ngược lên phía Bắc rồi quay vào Tam Chỉ,
sai một tướng dẫn thuyền rồng đến cửa biển Ngọc Sơn.
Tướng nhà Nguyên là Lý Hằng và khoan triệt đuổi theo đến Ngọc Sơn mới biết là thuyền giả.
Hưng Đạo Vương rước xa giá lên bộ đi đến Làng Thủ Chú,
rồi lại xuống thuyền ra sông Bạch Đằng, rồi vào Thanh Hóa.
Bây giờ quân nguyên thế mạnh đóng khóc các nơi,
từ vùng Bắc Ninh, Hăng Long, Thiên Trường, chỗ nào cũng có quân đóng.
Ở vùng Nghệ An lại có Toà Đô, Ô Mã Nhi đánh ra.
Bọn Hoàng tộc là Trần Ích Tắc, Trần Thú Viên đều ra hàng thoát hoan cả.
Đạo quân của Toà Đô ở Chiêm Thành kéo ra đánh lấy đất Nghệ An.
Trần Quang Khải đem quân ngùi ra mặt ngoài giữ các đường hiểm yếu.
Toà Đô đánh mãi không được, mà Lương Thảo thì một ngày một cạn,
bền cùng với Ô Mã Nhi dẫn quân xuống thuyền vượt bề ra ngoài Bắc để hợp binh với thoát hoan.
Trần Quang Khải được binh ấy, cho người về Thanh Hóa phi báo.
Nhân Tông hội quân thần lại hỏi kế, hưng đạo vương tâu rằng
Toà Đô tự Chiêm Thành trở ra, đường xá gập gành, quân sĩ vất vả,
nay lại vượt bề ra Bắc thì sức lực cũng đã mỏi mệt.
Vậy nay nên sai một tướng nên ra đón đường mà đánh thì át phá được.
Trần Nhân Tông nghe lời tâu ấy, sai Trần Nhật ruột làm tránh tướng,
Trần Quốc Toàn làm phó tướng đi cùng với Nguyễn Khoái, mang 5 vạn quân ra Bắc đón đường đánh Toà Đô.
Trần Nhật ruột gặp binh thuyền Toà Đô ở bên Hàm Tử, bền chia quân ra đánh.
Hai bên chống nhau ác liệt.
Toà Đô đi đường xa, giao chiến lâu ngày đã mỏi mệt,
lại trông thấy cơ hiệu của Triệu Chu, một viên tướng của nước Tống theo hàng nhà Trần,
lo lắng tưởng rằng nhà Tống đã khôi phục và sang giúp đại Việt.
Nhóm quân người Hoa trong hàng ngũ quân Trần đều muốn trả thù nên đánh rất hăng.
Trong khi đó quân Trần lại dùng kế ly rán, bắn tên gắn giấy sang bên quân Nguyên,
nói rằng chỉ đánh người Thát Đác chứ không đánh người Hoa.
Nhiều đó khiến nhiều tướng dĩ người Hoa trong quân Nguyên nào nhúng,
không tận lực chiến đấu hoặc trở ráo sang hàng quân Trần.
Toà Đô bị thua to, phải giúp quân về sông Thiên Mạc.
Trần Nhật ruột thắng trận, cho Quốc Toàn bưa tin về thanh hóa.
Khương Đạo Vương được tin mừng ấy, vào tâu với vua rằng,
quân ta mới thắng, khí lực đang hăng, mà quân Nguyên mới thua, khóc cũng trụt dạ.
Vậy nên nhân dịp này mà tiến quân đánh Thoát Hoan để khôi phục kinh thành.
Vua nghe lời truyền sắp sửa tiến binh, sai Trần Quang Khải,
đem quân ra đánh Thăng Long và truyền hịch sai Trần Nhật ruột đóng quân giữ chặn đường,
không cho bọn Toà Đô kéo lên hợp với Thoát Hoan.
Khi ấy đại binh của Thoát Hoan ở Thăng Long còn chiến thuyền đóng ở Bến Trưng Dương.
Trần Quang Khải với Trần Quốc Toàn và Phạm Ngũ Lão đem quân từ thanh hóa đi
Quân Trần đánh hăng quá, quân Nguyên địch không nổi phải bỏ chạy.
Trần Quang Khải đem quân lên bộ đuổi đánh về đến Trần Thành Thăng Long hạ chạy.
Thoát Hoan đem đại quân ra đánh, bị phục binh của Trần Quang Khải đánh úp lại.
Quân Nguyên cải bỏ Thành Thăng Long chạy qua sông Hồng sang giữa mặt hình Bắc.
Trần Quang Khải vào thành mở tiệc khao quân, rồi sai người về thanh hóa dâng biểu báo tin thắng trận.
Vui nhân Tông Thế quân Thế đã mạnh, trong 2 tháng đánh được 2 trận,
quân sĩ ai nấy đều nứt lòng đánh giặc, bện giức Thượng Hoàng và các binh mã ra đóng ở Tràng An.
Toa Đô đóng quân ở thiên trường xa cách thoát Hoan hơn 200 dặm,
cho nên chưa biết thoát Hoan đã thua chạy về Bắc Giăng rồi, bền tiến binh vào đóng ở sông Thiên Mạc.
Được mấy hôm Toa Đô biết đạo thiền quân của mình đã bại trận,
mà các biến thì chỗ nào cũng có quân nhà Trần Án Ngữ,
mới lui về đóng ở Tây Kết rồi cho người đi dò xem quân thoát Hoan đóng ở đâu.
Quân Trần từ khi đánh được trận Hàm Tử và trận Trương Dương rồi, quân Thế lên cao.
Hương Đạo Vương mừng rỡ, vào câu với nhân Tông xin tự tiến binh ra đánh Toa Đô và thoát Hoan.
Nhân Tông nghe lời ấy, cho Hương Đạo Vương quý ý mà sai khiến.
Khi quân già đến Tây Kết, Hương Đạo Vương chia quân già đánh chạy quân Nguyên, quân Nguyên bị giết rất nhiều.
Toa Đô tử trận, còn Ô Mã Nhi đi thuyền nhỏ trốn thoát ra biển, trốn về tàu được.
Bấy giờ thoát Hoan đóng quân ở Bắc Giang, nghe đồn Toa Đô tử trận Ô Mã Nhi đã trốn về tàu, quân sĩ đều ngã lòng.
Và lại trời đang mùa hè nóng nực khó chịu, trương khí bốc lên, quân sĩ không hợp thủy thủ bị dịch bệnh cũng nhiều.
Bởi thế có bụng muốn rút quân về.
Hương Đạo Vương biết câu thoát Hoan tất phải chạy, niền sai Nguyễn Khói, Phạm Ngũ Lão dẫn 3 vạn quân phục sẵn bên sông Vạn Kiếp,
sai 2 con là Hương Võ Vương Nghiễn và Hương Hiếu Vương Ý dẫn 3 vạn quân giữ chặn đường về châu Tư Minh.
Hương Đạo Vương tự dẫn đại quân lên Bắc Giang đánh quân Nguyên.
Quân Nguyên thua chạy, thoát Hoan dẫn bại Bình chạy đến bên Vạn Kiếp, gặp Nguyễn Khói ra đánh.
Quân Nguyên 10 phần tổn hại mất năm, còn thoát Hoan cố sức đánh lấy đường mà chạy.
Quân Nguyên chạy về hướng Tư Minh, đến Bĩnh Bình, lại bị quân của Trần Quốc Nghiễn chặn đánh.
Quân Đại Việt bắn tên như mưa, tướng Nguyên là Lý Hằng, Lý Quán bị trúng tên chết.
Thoát Hoan phải chui vào trong ống đồng để chạy trốn, thoát được về bên tàu.
Thế là đại quân của thoát Hoan lúc đầu mới sang lửng lẫy bao nhiêu, bây giờ tan nát cả.
Trong 6 tháng trời, từ tháng 12 năm 1284 đến tháng 6 năm 1285,
quân Đại Việt đuổi 50 vạn quân Mông Cổ ra ngoài bờ cõi, chỉnh đốn Giang Sơn lại như cũ.
Ấy cũng nhờ có tay hưng đạo vương có tài đại tướng, cầm quân vững chãi, gan bền tựa sắt
và lại khéo dùng lời khuyên rỗ, khiến cho một người cảm động, sinh lòng trung nghĩa,
cho nên tướng sĩ ai đấy đều hết lòng giúp nước.
Và Đại Việt thời bấy giờ vua tôi hòa hợp lòng người như một, nhân tài lũ lượt kéo ra,
cho nên quân nhà Nguyên thua tan nát là sự tất nhiên vậy.
Tháng 6 năm 1285, thoát Hoan dẫn tàn quân trở về sau thất bại trong cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ 2.
Bây giờ nhà Nguyên đang sắp sửa cất quân sang đánh Nhật Bản,
Ben lập tức đình việc đi đánh Nhật Bản lại và sai đóng thêm 300 chiến thuyền,
truyền hịch cho 3 tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng, Giang Tây tụ tập quân sĩ.
Định đến tháng 8 thì cất quân đi đường Châu Khâm, Châu Liêm sang đánh nước Nam để báo thủ.
Tuy nhiên, quan tỉnh Hồ Nam là tuyến kha dâng sớ về căn rằng,
quân ta bại trận mới về, kẻ mang dấu vết chưa khỏi, người đau yếu chưa dậy,
xin hãy cho quân sĩ nghỉ ngơi dưỡng sức ít lâu, rồi sẽ định kế xuất trinh.
Mua Nguyên nghe lời, cho quân sĩ nghỉ vài tháng.
Nhận tông nghe tin Nguyên Triều sắp sửa cất quân sang đánh Đại Việt,
Ben gọi Hương Đạo Vương vào hỏi kế chống giặc.
Hương Đạo Vương tô rằng, nước ta trước kia hưởng Thái Bình đã lâu, không quen chiến trận,
cho nên khi quân Nguyên vào khớp còn có kẻ trốn tránh theo hàng giặc.
Còn bây giờ quân ta đã quen việc chinh chiến, mà quân địch thì đi xa mỏi mệt.
Cứ như ý tôi, thì chuyến này dù có quân Nguyên sang đây,
ta phá cũng dễ hơn trước, xin bệ hạ đừng lo.
Nhận tông mừng rỡ, sai Hương Đạo Vương đốc xuất các vương hậu,
mộ thêm quân sĩ, sửa sang khí giới để phòng việc công thủ.
Sang tháng 2 năm 1287, Nguyên chủ sai thoát hoan làm Đại Nguyên xoái
đem hơn 30 vạn quân sang đánh nước Nam,
giả danh đưa Trần Ích tắt về nước, lập làm An Nam quốc vương.
Lại sai Trưng Văn Hổ theo đường biển tài 17 vạn thạch lương sang cấp cho quân sĩ.
Qua tháng 11 thoát hoan chia 3 cánh quân sang đánh Đại Việt.
Cánh thứ nhất theo đường Vân Nam tiến xuống sông Thao và sông Lô do Ái Lỗ chỉ huy.
Cánh thứ hai là quân chủ lực đi đường Châu Khâm,
Châu Liêm do thoát hoan cùng Trình Bằng Phi, áo lỗ xích
dẫn theo Trần Ích tắt tiến vào biên giới Đông Bắc.
Cánh thứ ba là thủy quân do Âu Mãi Nhì,
phản tiếp chỉ huy 500 chiến thuyền cùng đoàn vận lương
do Trưng Văn Hổ phụ trách kéo theo sau.
Phía Đại Việt, Hương Đạo Vương Trần Quốc
Nguyễn Khoái giữ Lạm Sơn, Trần Nhật ruột giữ Bạch Hạc,
Trần Quốc Toàn, Lê Phụ Trần vào giữ Thanh Nghệ,
tự Trần Quốc Tuấn đóng binh ở mặt Quảng Yên.
Quan quân tuy đóng giữ như vậy nhưng quân nguyên thế mạnh
chống không nổi, phải rút về Vạn Kiếp,
thoát hoan tiến lên chiếm giữ Núi Phà Lại và Núi Trí Linh,
lập trại chống nhau với quân ta,
rồi hợp quân với Âu Mãi Nhì đánh lấy đồn Vạn Kiếp.
Hương Đạo Vương rút quân về giữ Thăng Long
Nhưng sau khi bị bọn Âu Mãi Nhì đuổi ngặt quá,
Thượng Hoàng và Nhân Tông phải xuống thuyền ra biển đi vào Thanh Hóa.
Trong khi đó đạo quân của Ái Lỗ từ Vân Nam tiến đến Bạch Hạc giao chiến
với quân của Trần Nhật ruột và giành thắng lợi,
sau đó tiến thẳng về Thăng Long hội quân với thoát hoan ở bên bờ sông Hồng.
Thoát hoan đem binh mã tiến lên vây đánh Thăng Long,
nhưng Hương Đạo Vương giàn quân cố thủ quân bị đánh nhiều ngày không hạ được,
phải rút về giữ Vạn Kiếp, Trí Linh và Phà Lại.
Quân Nguyên đóng mãi ở Vạn Kiếp lưng thực sức cạn.
Thoát hoan bèn sai Âu Mãi Nhì dẫn thủy quân ra cửa bề đại bàng đóng thuyền lương của Trương Văn Hổ.
Âu Mãi Nhì đem thuyền đi đến Ải Vân Đồn,
gặp quân của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư chặn đường không cho đi.
Âu Mãi Nhì thúc quân đánh giáp một trận, quân Khánh Dư thua bỏ chạy cả.
Quân Nguyên kéo thẳng ra biển đi đóng thuyền lương.
Thượng Hoàng nghe tin thủy quân ở Vân Đồn bại trận,
cho xuống ra bắt Khánh Dư về hỏi tội.
Khánh Dư sinh khất vài ngày để trục tội.
Được mấy hôm Âu Mãi Nhì ra gặp thuyền lương của Trương Văn Hổ,
lại đem quân trở vào đi trước dẹp đường.
Trương Văn Hổ theo vào sau.
Âu Mãi Nhì đã phá được quân ta,
trong bụng chắc rằng không còn ai ngăn trở gì nữa,
cho nên Kinh Thường đem binh thuyền đi trước, bỏ xa Trương Văn Hổ phía sau.
Khánh Dư phục quân sẵn đợi thuyền lương của Trương Văn Hổ đến thì kéo ra đánh.
Quả nhiên Trương Văn Hổ tài các thuyền lương vào cửa biển lục thủy.
Khánh Dư đổ quân ra đánh.
Văn Hổ không có quân hộ tống bị không nổi,
bao nhiêu lương thực khí giới bị quân của Khánh Dư cướp phá mất cả.
Còn Trương Văn Hổ thì chạy xuống thuyền nhỏ trốn về Quỳnh Châu.
Khánh Dư thắng trận đưa thư về báo tin.
Thượng Hoàng mừng rỡ, xá tội chức không hỏi,
và bảo Hương Đạo Vương rằng,
quân nguyên cốt trông cậy có lương thảo khí giới này đã bị ta cướp được cả rồi,
thì thế nó không tràng cử được nữa.
Nhưng nó chưa biết tất con đắc trí.
Vậy ta nên thà những quân bị bắt cho về báo tin với Thoát Hoan,
thì quân sĩ của nó tất ngã lòng.
Bây giờ mới phá rất dễ.
Hương Đạo Vương tuân lệnh, cho lũ quân nguyên về.
Từ đấy quân của Thoát Hoan xuân sao,
có bộ muốn về tàu, mà lương thực một ngày một cạn.
Các tướng thấy vậy bền vào bàn với Thoát Hoan rằng,
quân ta đóng ở đây, thành trí đã không có, kho tẳng lại cạn cả.
Và bây giờ là đang lúc hết xuân sang hạ,
khí trời nồng nực, mà những chỗ hiểm yếu đều mất cả.
Chi bằng hãy rút quân về, rồi sau sẽ liệu kế khác.
Thoát Hoan thấy quân thế của Hương Đạo Vương mạnh lắm,
chưa thể phá được.
Bền nghe lời các tướng, sai ô mã nghi,
phản tiếp dẫn thủy quân theo đường sông Bạch Đằng về trước.
Còn mặt bộ thì sai trình bằng phi,
chương quân dẫn binh đi chặn hậu,
sửa soạn rút về.
Hương Đạo Vương biết ngu ấy,
bền sai nguyễn khoái dẫn binh đi đường tắt đến sông Bạch Đằng,
kiếm gỗ đéo nhọ biệt sắc đóng khắp lòng sông,
rồi phục binh chờ đến lúc nào nước thủy chiều lên
thì đem binh ra khiêu chiến,
nhử cho thuyền giặc qua chỗ đóng cọc.
Hễ lúc nào nước thủy chiều xuống
thì quay binh lại hết sức mà đánh.
Lại sai phạm ngũ lão dẫn quân lên phục
ở ải nội bàng chờ quân Nguyên chạy đến,
thi đổ ra mà đánh.
Những chiến thuyền của ô mã nghi,
phản tiếp theo dòng sông Bạch Đằng,
bỗng chốc thấy tướng nhà Trần là Nguyễn Khoái
Ô mã nghi tự dẫn thúc quân sông vào,
Nguyễn Khoái liền quay thuyền chạy.
Bấy giờ đang lúc thủy chiều lên,
mặt nước mênh mông, ô mã nghi thấy quân ta chạy
thúc thuyền đuổi theo.
Nguyễn Khoái nhờ quân đi khỏi xa chỗ đóng cọc
rồi mới quay thuyền lại đánh.
Hai bên đang giao chiến,
thì đại quân của Hưng Đạo Vương đến tiếp ứng.
Ô mã nghi, phản tiếp thấy quan quân thế mạnh
mới quay thuyền chạy trở lại.
Khi chạy đến khúc sông có cọc đóng
thì nước thủy chiều đã rút xuống,
thuyền của quân Nguyễn vướng mắc phải cọc
đổng nhưng đổng nữa, đắm vỡ mất nhiều.
Quan quân thừa thắng đánh cửa khăn,
quân Nguyễn chết như dạ, máu loang đỏ cả khúc sông.
Tướng Nguyễn là ô mã nghi,
phản tiếp tích lệ, cơ ngọc đều bị bắt tại trận.
Trận Bạch Đằng Giang tháng 3 năm 1288,
lấy được chiến thuyền của quân Nguyễn hơn 400 chức
và bắt được quân sĩ rất nhiều.
Thoát hoàn nghe tin quân thủy tan vỡ rồi,
dẫn quân đi đường bộ chạy về đến Ải Nội Bàng
thì gặp phục binh của Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh.
Các tướng cố sức bảo vệ thoát hoan,
vừa đánh vừa chạy.
Trương quân dẫn 3.000 quân đi bọc hậu,
bị Phạm Ngũ Lão chén chết.
Thoát hoan chạy thoát ra được cửa Ải,
quân sĩ 10 phần tổn hại mất năm.
Bọn thoát hoan đang đi thì có tham báo
rằng từ cửa Ải Nữ Nhi đến Mãi Núi
thì cấp hơn 100 dặm, chỗ nào cũng có quân mai phục.
Nghe tin ấy quân sĩ đều xôn xao sợ hãi,
phía sau lại nghe tiếng ẩm ẩm
quan quân đuổi theo.
Thoát hoan vội vàng sai A-bát-xích,
Trương Ngọc dẫn quân đi trước mở đường,
áo lỗ xích đi đoạn hậu.
A-bát-xích Trương Ngọc gặp phải quan quân
chặn đường phục ở hai bên sần núi,
bắn tên hoác độc xuống như mưa.
Hai tướng đều tử trận và quân sĩ chết
thấy nằm ngủ ngang.
Con Trình băng phi hết sức bảo vệ thoát hoan
Quân Nguyên Sang đánh Đại Việt
tuy ba lần đều thua cả,
nhưng thế nhà Nguyên vẫn rất mạnh,
mà nước Nam ta sánh với nước Tàu lại
là một nước nhỏ, nếu cứ tranh chiến mãi
thì sự thắng bại chưa biết thế nào,
mà môn dân lại phải lầm than, khổ sở.
Vì lệ ấy Vua Nhân Tông mới chủ động
dùng biện pháp ngoại giao để lập lại hòa bình.
Tuy nhiên Nguyên Thế Tổ hốt thất liệt
vẫn muốn cắt quân Sang đánh báo thù,
đến năm 1294 khi đang sửa soạn binh mã
thì hốt thất liệt qua đời,
Nguyên Thánh Tông lên ngôi mới bãi việc đánh Đại Việt.
Khi đó, chiến tranh mới thực sự chấm dứt.
Năm 1290,
Trần Thánh Tông mất,
chỉ vì được 21 năm,
làm Thái Tượng Hoàng được 13 năm, thọ 51 tuổi.
Đến năm 1293,
Vua Nhân Tông nhờ ngôi cho Thái Tử Thuyên
tức là Trần Anh Tông.
Anh Tông là một ông vua hiếu thảo và lại thông minh,
cho nên việc triều chính thời bấy giờ rất kỳ cương.
Trong triều lại có những người tài giỏi
hết lòng giúp việc nước,
văn như ông Trường Hán Siêu,
võ như ông Phạm Ngũ Lão đều là người có tài trí cả.
Việc học hành mở mang rộng rãi,
cho nên những người có tài văn học như ông Mạc Đĩnh Tri,
Nguyễn Trung Ngạn đều được thi đỗ,
ra làm quan giúp việc triều đình.
Thật là một thời rất kỵ về đời nhà Trần vậy.
Năm 1300,
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mất.
Ông là một đệ nhất danh tướng của nước ta,
đánh giặc nguyên có công to với nước,
được phong làm Thái Sư, Thượng Phụ, Thượng Quốc Công,
Bình Bắc Đại Nguyên Xoái, Hưng Đạo Đại Vương.
Hưng Đạo Vương làm quan đến đời Vua Anh Tông
thì xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp.
Khi Ngài sắp mất,
Vua Anh Tông có ngụ giá đến thăm,
nhận thấy Ngài bệnh nặng mới hỏi rằng
Thượng Phụ một mai khuất núi,
nếu có giặc phương bắt lại sang thì làm thế nào?
Hưng Đạo Vương tô rằng,
lúc Bình thì khoan sức cho dân,
để làm kế sâu dễ bền gốc,
đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả.
Anh Tông nghe lời ấy cho là rất phải.
Được mấy hôm thì Ngài mất,
mà vẫn giữ chức phận làm tôi,
không dám điều gì kiêu ngạo,
và ở với ai cũng thật là công chính
cho nên đến khi Ngài mất,
tự vua quan cho đến bách tính ai cũng thương tiếc.
Nhân dân nhiều nơi lập đền thở phụng
để ghi nhớ công đức của Ngài.
Năm 1301,
Thượng Hoàng Nhân Tông đi sang Chiêm thành ngắm phong cảnh,
có ước gả huyền chân công chúa cho Vua Chiêm là Chế Mân.
Được ít lâu Chế Mân cho người đưa vàng bạc
và các sản vật sang cống,
lại xin dân hai châu ô dí để làm lễ cưới.
Đến năm 1306,
Vua Anh Tông cho công chúa về Chiêm thành.
Sang năm 1307 thì thu nhận
hai châu ô và châu dí,
đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu.
Huyền chân công chúa lấy Chế Mân
chưa được một năm thì Chế Mân mất,
mà theo tục Chiêm thành, hẽ khi Vua đã chết
thì các hậu phải hỏa thiêu chết theo.
Anh Tông được tin ấy, sai trần khắc trung,
giả mượn tiếng vào thăm để đưa công chúa về.
Năm 1308,
Nhân Tông Thượng Hoàng mất ở Chúa Yên Tử.
Năm 1314,
Anh Tông nhường ngôi cho Thái Tử Mạnh,
rồi về làm Thái Thượng Hoàng ở Phủ Thiên Trường
đến năm 1320 thì mất,
chỉ vì được 21 năm, nhường ngôi được 6 năm,
thọ 54 tuổi.
Thái Tử Mạnh lên ngôi làm Vua,
tức là Trần Minh Tông.
Minh Tông IV là ông Vua có lòng nhân hậu,
thương yêu nhân dân, mà thời bấy giờ
làm quan tại triều có Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão,
Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi,
Chú Văn An, đều là những người có tài trí cả,
cho nên trong nước được yên trị.
Giao hiếu với nước Tổ tuy rằng
có lôi thôi về đường biên giới,
nhưng đại khái vẫn được hòa hảo.
Duy chỉ có nước Chiêm Thành hay Sang Quấy Nhiệu
ở phía Nam, cho nên phải dùng binh
năm 1318. Minh Tông làm Vua
đến năm 1329, thì nhường ngôi
cho Thái Tử Vượng, rồi về làm Thái Thượng Hoàng.
Thái Tử Vượng
mới có 10 tuổi, nên làm Vua
tức là Trần Hiến Tông. Hiến Tông chỉ
làm Vua lấy vì mà thôi, quyền chính
ở cả Tây Minh Tông Thượng Hoàng, cho nên
tuy ngài có làm Vua được non 13 năm,
nhưng không được tự chủ việc gì.
Nước ta từ thời Vua Nhân Tông và Anh Tông
có giặc Ai Lào hay Sang Quấy Nhiệu.
Quan quân đã phải đi đánh nhiều lần,
nhưng lần nào đánh xong thì cũng chỉ yên được
vài ba năm, rồi giặc lại sang đánh phá.
Mà quan quân có đi đánh, thì cũng đánh
cho nó đừng sang ăn cướp ở đất mình
nữa mà thôi, chứ không có lúc nào
định chiếm giữ đất Lào cả. Bởi lẽ
tại đất Lào nhiều rừng núi, phải sơn
lam thủy trướng, đường xá xa xôi,
vận tải khó nhọc, cho nên quân ta không
ở được lâu. Còn người Lào thì họ
thuộc đường xá, quen phong thổ, tiến thoái
tùy tiện, thắng thì họ tiến lên đánh,
bại thì họ rút quân đi, mình không biết đâu
mà đuổi. Bởi thế cho nên quân ta
vẫn đánh được giặc mà giặc vẫn còn,
thành ra cứ phải đi đánh mãi.
Hiến Tông làm Vua đến năm 1341
thì mất, chỉ vì được 13 năm, thọ
23 tuổi.
Hiến Tông không có con, Minh Tông Thượng Hoàng
lập người em tên là Hạo Lên làm Vua,
tức là Trần Dụ Tông. Trong những
năm đầu, tuy Dụ Tông làm Vua, nhưng
quyền chính ở Minh Tông Thượng Hoàng quyết đoán
đánh cả, cho nên dẫu có phải mấy
năm tai biến mất mùa đói khổ, nhưng
việc chính trị còn có thứ tự. Từ
năm 1358 trở đi, Thượng Hoàng
mất rồi, những cựu thần như ông Trương Hán
siêu, ông Nguyễn Trung Ngạn cũng mất cả,
từ đó việc chính trị trễ nải.
Kẻ gian thần mỗi ngày một đắc trí,
ông Chu Văn An là một nhà danh nho thời
bấy giờ và đang làm quan tại Triều,
thấy chính trị bại hoại, làm thất sớ chảm
dâng lên xin chém bảy tên quyền thần.
Vua không nghe, ông ấy từ quan về
dạy học ở núi Trí Linh.
Dụ tông về sau cứ rượu chè chơi
bời, xây cung điện, đào hồ đáp
núi, rồi lại cho gọi những người nhà giàu
vào trong điện để đánh bạc. Bắt
bương hầu công chúa phải đặt chuyện hát tuồng,
và bắt các quan thị nhau uống rượu.
Chính sự như thế, cho nên giặc khớp nổi
lên như ong giấy. Dân tình khổ
sở, năm nào cũng phải đói kém.
Cơ nghiệp nhà Trần bắt đầu suy từ đây.
Bây giờ ở bên tàu,
nhà Nguyên đã suy, trong nước rối loạn
Trung Nguyên trương giấy binh ở đất Tử Châu,
rồi trong 15 năm giúp được nhà Nguyên
rẹp yên thiên hạ, dựng nên cơ nghiệp
nhà Minh. Nước Nam ta bây giờ
tuy đã suy nhược, nhưng mà nhà Minh mới định
xong thiên hạ, còn phải sửa sang việc nước,
chưa dòm đến nước mình, cho nên cũng chưa
có việc gì quan trọng lắm. Còn
ở phía Nam thì nước chiêm nhân lúc nhà Trần
suy yêu cư sang đánh phá.
Năm 1369, vua rượu tông
mất, không có con. Bà Hoàng
Thái hậu lập người con của cung túc Vương
là Nhật Lễ lên ngôi. Nguyên mẹ
Nhật Lễ là người con hát, lấy người hát
bội tên là Dương Khương, có thai rồi
mới bỏ Dương Khương mà lấy cung túc Vương
sinh ra Nhật Lễ. Nay lên làm
vua, Nhật Lễ muốn cải họ là Dương
để giất ngôi nhà Trần, rồi giết bà
Hoàng Thái hậu và cung định Vương.
Bấy giờ cung tĩnh Vương ở chỗ Kinh Sư
cũng sợ bị hại, và lại tính khí cũng
nhủ nhược, không có ý tranh cạnh, mới
bỏ trốn lên mạng Đà Giang. Các quan
tôn thất nhà Trần mới hội nhau đem binh
về bắt Nhật Lễ giết đi, rồi giấc cung tĩnh
Vương về làm vua, tức là Trần Nghệ
Tông. Khi Nghệ Tông
giết Nhật Lễ rồi, mẹ Nhật Lễ chạy
sang Chiêm Thành, xin vua nước ấy là
Chế Bồng Nga đem quân sang đánh An Nam
Quân Chiêm nhân dịp kéo lên đánh
Thăng Long. Quan quân đánh không nổi
Nghệ Tông phải lánh mình chạy sang Đông Ngạ
Quân Chiêm vào thành, đốt sạch
cung điện, bắt đàn bà con gái, lấy
hết các đồ báo, rồi rút quân về
Nghệ Tông là một ông vua nhu nhược
việc gì cũng để cho người ngoại tích là
Lê Quý ly quyết đoán cả. Năm
1372, Nghệ Tông chuyển ngôi
cho em là Kính, rồi về ở Phủ Thiên
Trường làm Thái tượng Hoàng
Thái tử Kính lên ngôi, tức là
vua Duệ Tông lập em họ của Lê Quý
ly là Lê Thị làm Hoàng hậu
Duệ Tông có tính quyết đoán hơn Nghệ Tông
nhưng hòa quyền bính vẫn ở tay Nghệ Tông
tượng Hoàng cả. Bây giờ quân Chiêm
Thành cứ sang quấy nhiễu mãi, vua Duệ
Tông quyết ý đi đánh báo thù, bèn hạ
chiếu luyện tập quân lính, làm chiến thuyền
và tích lương thảo để phòng việc chinh chiến
rồi đặt thêm quân hiệu cho Quý
Ly làm thang mưu quân sự. Đến
1377 thì tiến quân đi đánh, kéo
quân đến đánh thành đồ bàn là Kinh Đô
Chiêm Thành. Vua Chiêm là chế bồng
Nga lập đồn giữ ở ngoài thành, rồi
cho người sang giả hàng nói chế bồng Nga
đã bỏ thành chạy trốn rồi, chỉ còn có
thành không mặt thôi, xin tiến binh sang ngay
Duệ Tông lấy điều ấy làm thật
hạ lệ chuyển tiến binh vào thành
Khi quân gần đến thành thì bị quân Chiêm đổ
ra vây đánh. Quan quân thua to
Duệ Tông tử trận, tướng sĩ quân
lính mười phần chết đến bảy tám, Lê Quý
Ly bỏ chạy về nước. Thượng
Hoàng được tin Duệ Tông chết trận rồi
Bèn lập con Duệ Tông là hiện lên nối ngôi
tức là vua phế đế. Quân Chiêm
Thành đã phá được quân An Nam và giết
được Duệ Tông rồi, biết nước Nam suy nhược
cứ sang cướp phá. Quân Chiêm
bấy giờ ra vào nước Nam ta như đi vào
chỗ không người, cho nên trong mấy năm mà
vỏ phá Kinh Thành ba lần, ba lần Thượng
Hoàng cùng đế hiện phải bỏ thành mà chạy
Thế mà đến khi giặc về rồi, cũng không
sửa sang gì để phòng bị về sau
Thật là làm nhục cái tiếng con cháu Trần Hưng
Đạo Vương. Trong nước bấy giờ
dân tỉnh đói khổ, thuế má thì
càng ngày càng nặng, giặc giã liên miên
Ở bên tàu thì nhà Minh đã giúp được
nhà Nguyên, lại có ý giòm ngó nước ta
Thường cho sứ đi lại sách nhũ điều này
điều kia. Vua Nghệ Tông tuy
giữ quyền chính trị, nhưng việc gì cũng
dò ở Lê Quý Ly. Triều thần
thì chỉ có mặt xu nĩng, người nào cũng chỉ
lo lấy thân mình, việc nước an nguy thế nào
không ai lo nghĩ đến
Bấy giờ ở đế hiện thấy Thượng Hoàng
yêu dùng Quý Ly, mới bàn với các quan
thấy rằng nếu không trừ đi rồi sao tất
hành hoạn. Quý Ly biết mưu ấy
đến kêu văn với Thượng Hoàng
Thượng Hoàng nghe lời, xuống triều trách đế hiện
còn tính trẻ con, lại có ý hại kẻ công
thần, làm nguy sã tắc, vậy phải
dáng xuống làm Minh Đức Đại Vương, và lập
triều định Vương là con Nghệ Tông lên núi ngôi
Khi tờ triều ấy bố cáo ra ngoài
có mấy người tướng quân đã toàn đưa
quần vào điện cứu đế hiện ra, nhưng
vua viết hai chữ giải giáp, và không cho
được trái mệnh của Thượng Hoàng. Sau
đế hiện bị thắt cổ chết, còn những tướng
sĩ đồng mưu giết Quý Ly đều bị hại cả
Nghệ Tông Thượng Hoàng đã nghe
Quý Ly mà giết đế hiện, rồi lập
người con út của mình là triều định Vương lên
làm vua, tức là vua Thuận Tông
Năm 1389, Chế Bồng Nga
lại đem quân ra đánh Thanh Hóa
Thượng Hoàng sai quan đô tướng là Trần Khát Trân
đem binh đi chống giữ với giặc
Bây giờ có tên đầy tớ của Chế Bồng Nga
có tội, sợ phải giết, chạy sang
với Trần Khát Trân, khi Chế Bồng Nga
đem hơn 100 chiếc thuyền đến gần trại
của quân nhà Trần Đóng, tên đầy tớ ấy
chỉ thuyền của Chế Bồng Nga cho Khát Trân
Khát Trân mới chuyển lấy súng bắn vào
thuyền ấy, Chế Bồng Nga trúng đạn
tử trận, quan quân đổ ra đánh
quân Chiêm thấy quốc vương chết đều bỏ chạy
cả. Từ khi giặc Chiêm
đã yên, Lê Quý Ly càng ngày càng
kêu ngạo. Bao nhiêu những người mà không
phục tùng mình thì suy Thượng Hoàng giết đi
Hoàng tử, Thân Vương đều bị hại
Mà Thượng Hoàng thì cứ tin Quý Ly
một cách lạ lùng. Sĩ Phu có
người dân sớ tâu với Thượng Hoàng rằng
Quý Ly có ý muốn dòm cơ nghiệp nhà Trần
thì Thượng Hoàng lại đưa sớ cho Quý Ly xem
cho nên những người trung thần không ai nói năng
gì nữa. Quy quyền của Quý Ly
ngày một lớn, vây cánh ngày một nhiều
Thượng Hoàng sao tình dân lại biết lấy làm sợ
nhưng đã muộn rồi, không sao được nữa
Khi nghệ tông mất rồi
Quý Ly lên làm cụ chính Thái Sư vào
ở trong điện, từ đây cứ chuyên làm mọi
việc để trục đường thoán đoạt. Quý Ly
định rời Kinh Đô vào Thanh Hóa cho dễ
đường thoán đoạt. Bèn Sai Quan vào xê
thành Tây Đô, nay còn di tích ở xã Yên Tôn
huyện Vĩnh Lục. Năm 1396
Quý Ly bắt Thuận Tông phải rời Kinh
Đến năm 1397 thì ép
Thuận Tông phải nhường ngôi cho con, rồi đi
tu. Thái Tử Án
bấy giờ mới có 3 tuổi lên làm vua
tức là Trần Thiếu Đế. Lê Quý Ly
làm vụ chính tự xưng làm khâm Đức
Hưng Liệt Đại Vương, rồi sai người giết
Thuận Tông đi. Bấy giờ triều đình có
những người như là Thái Bảo Trần Nguyên Hảng
Thượng Tướng Quân Trần Khát Trần lập hội
để mưu trừ Quý Ly, chẳng may sự lộ ra
bị giết cả. Lê Quý Ly
lại xưng là Quốc Tổ Trương Hoàng ở
Cung Nhân Thọ, ra vào dùng nghi vệ của
Thiên Tử. Đến tháng 2 năm 1400
Quý Ly phế bỏ Thiếu Đế rồi
tự xưng làm vua thay ngôi nhà Trần
Nhà Trần làm vua nước Nam ta
kể từ Trần Thái Tông đến Trần Thiếu Đế
với 12 ông vua, được
175 năm, công việc trong nước sửa sang
được nhiều, chính trị luật lệ điều chỉnh
đốn lại, học hành thi cử thì mở
mang rộng thêm ra. Lại ba lần
chống với nhà nguyên giữ được Giang Sơn
lễ đất chiêm thành mở thêm bở cõi,
thật là có công với nước Nam. Chỉ
có điều luân thường trong nhà thì bậy, cô
cháu, anh em, trong họ cứ lấy lẫn
nhau, thật là trái với thế tục.
Còn như cơ nghiệp nhà Trần siêu đổ là
tại vua Dụ Tông và vua Nghệ Tông.
Dụ Tông thì hoang chơi, không chịu
lo gì đến việc nước, và lại làm loạn
cả cương kỳ để đến nỗi dân nghèo nước yếu.
Nghệ Tông thì không biết phân biệt
hiền gian để kẻ quyền thân được thấy làm loạn
thành ra tự mình nối giáo cho dọc
tự mình làm hại nhà mình vậy.
