Mỹ Chuẩn Bị Vũ Khí Hủy Diệt Cho Đài Loan Đập Tan Tham Vọng Của Trung Quốc

Góc Nhìn Lê Minh
705 người theo dõi
Thưa quý vị, ngày 17 tháng 11, triển lam hàng không Chu Hải khép lại nhưng dư âm của nó vẫn còn vang dội với sự hiện diện đầy phô trương của chiếc J-20,
chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 được Trung Quốc kỳ vọng sẽ thay đổi cục diện chiến tranh hiện đại.
Thêm vào đó là sự xuất hiện bất ngờ của J-35, biến tham vọng của Bắc Kinh trở thành tâm điểm chú ý toàn cầu.
Trung Quốc muốn chứng minh rằng họ đang tiến gần hơn bao giờ hết đến vị thế siêu cường quân sự trên không, nhưng thực tế có phải vậy.
Hãy nhìn sang Hoa Kỳ, cường quốc đã không chỉ thiết lập tiêu chuẩn cho máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 mà còn sở hữu ít nhất 731 chiến đấu cơ hiện đại như F-22 và F-35 trong biên chế.
Với khả năng tàng hình, tốc độ vượt âm và công nghệ cảm biến tối tân, những quái vật bầu trời này không chỉ là biểu tượng của sức mạnh quân sự,
mà còn là lời cảnh báo lạnh lùng dành cho bất kỳ kẻ thách thức nào.
Trung Quốc đang cố gắng hết sức để thu hẹp khoảng cách, nhưng điều gì khiến J-20 vẫn bị xem là chưa đủ đẳng cấp.
Liệu màn trình diễn tại Chu Hải chỉ là một ván bài tuyên truyền của Bắc Kinh hay thực sự là bước đột phá?
Trong khi J-20 dầm rộ cất cánh, Hoa Kỳ đã chuẩn bị sẵn những chiến lược và công nghệ để đe bẹp mọi tham vọng.
Trận chiến bầu trời đang bắt đầu, ai mới là kẻ thống trị?
Xem hết video hôm nay, quý vị sẽ có câu trả lời.
Trung Quốc đặt cược vào J-20
Sách Trắng Quốc phòng Nhật Bản tiết lộ số lượng J-20 của Trung Quốc đã tăng từ 22 chiếc năm 2020
lên 200 chiếc năm 2024, tăng 10 lần chỉ trong 4 năm.
Bắc Kinh đang nỗ lực tăng tốc sản xuất để sánh ngang với các máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 như F-22 và F-35 của Mỹ.
Tuy nhiên, khoảng cách về số lượng và chất lượng vẫn là trở ngại lớn mà Trung Quốc khó vượt quả.
Mặc dù Bắc Kinh được biết đến như là công sưởng của thế giới, nhưng trong lĩnh vực sản xuất máy bay chiến đấu,
họ vẫn phụ thuộc nặng nề vào linh kiện nhập khẩu, đặc biệt là chip cao cấp và thiết bị sản xuất chính xác.
Sự kiểm soát công nghệ từ Mỹ và đồng minh đang khiến Bắc Kinh đối mặt với thách thức ngày càng lớn trong việc duy trì chỗi cung ứng
để mở rộng sản xuất J-20 và J-35.
Một điều yếu quan trọng khác là tuổi thọ ngắn của J-20 và J-35.
Trong khi F-22 và F-35 của Mỹ có tuổi thọ lên tới 8.000 giờ bay, đủ để phục vụ hơn 30 năm,
thì J-20 và J-35 của Trung Quốc chỉ đạt từ 2.000 đến 4.000 giờ bay, dẫn đến vòng đời ngắn ngủi.
Điều này không chỉ hạn chế khả năng duy trì số lượng, mà còn tăng chi phí vận hành và thay thế đáng kể.
Vấn đề động cơ cũng tiếp tục là trở ngại lớn.
J-20 đã trải qua nhiều lần thay đổi từ động cơ WS-10 sản xuất nội địa, động cơ nhập khẩu từ Nga đến WS-15 mới nhất,
nhưng vẫn chưa đạt được độ bền và hiệu suất như là các động cơ của F-22 và F-35.
Tương tự, J-35 phụ thuộc vào các động cơ sao chép từ Nga và nội địa hóa kém chất lượng, khiến chúng không thể cạnh tranh bền vững.
Không giống Mỹ, nơi mà việc sản xuất F-35 được hỗ trợ bởi mạng lưới hợp tác quốc tế trong toàn bộ liên minh,
Trung Quốc phải tự lực dẫn đến hạn chế cả về quy mô lẫn chất lượng sản xuất.
Trong khi F-22 và F-35 liên tục được nâng cấp và cải tiến, thì J-20 và J-35 sẽ đối mặt với nguy cơ bị đào thải sớm hơn nhiều.
Dù Trung Quốc đặt cược lớn vào J-20 và J-35 để cạnh tranh với Mỹ trên bầu trời,
nhưng hạn chế về công nghệ, vật liệu và động cơ khiến mục tiêu này ngày càng xa vời.
Với việc Mỹ đã bắt tay vào phát triển máy bay chiến đấu thệ thứ 6, tham vọng của Bắc Kinh càng khó trở thành hiện thực.
Vị trí triển khai J-20 cực kỳ dễ bị tấn công
Không quân Trung Quốc hiện đã bố trí 200 chiếc J-20 trong 14 lữ đoàn hàng không phân bổ khắp các chiến khu.
Chiến khu phía Đông, nơi tập trung nhiều nhất với 4 lữ đoàn, được ưu tiên để bảo vệ các khu vực chiến lược như Bắc Kinh, Thượng Hải, Hoàng Hải và Biển Hoa Đông,
đồng thời sẵn sàng cho các hoạt động ở eo biển Đài Loan, Biển Đông và biên giới với Ấn Độ cùng các quốc gia Đông Nam Á.
Các chiến khu khác từ Bắc, Nam, Tây đến Trung Bộ cũng lần lượt được phân bổ, nhưng đa số các lữ đoàn chỉ mới trang bị một đai đội, cần thời gian để hoàn thiện lực lượng.
Trung Quốc đang cố gắng triển khai phi đội J-20 theo cách phân tán, giống mô hình của quân đội Mỹ, nhằm tránh nguy cơ bị tấn công tập trung.
Tuy nhiên, việc một nửa số J-20 được triển khai gần bờ biển để đối phó với Mỹ trong khu vực chuỗi đảo thứ nhất lại khiến chúng dễ dàng nằm trong tầm tấn công của quân đội Mỹ.
Các hệ thống như tên lửa Typhoon được triển khai tại Philippines, Nhật Bản, cùng với các tàu và tàu ngầm Aegis, máy bay đem bom phóng tên lửa AGM-158
và hàng nghìn UAV Mỹ đang được phát triển đều có khả năng phá hủy sân bay và cơ sở hạ tầng nơi J-20 đóng quân.
Một khi các sân bay ven biển hoặc máy bay J-20 bị hư hại, ưu thế trên không của Trung Quốc trong khu vực sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Hệ thống phòng không Hồng Kỳ 9 mô phòng S-300 khó có thể đánh chặn hiệu quả trước các đòn tấn công từ tên lửa hành trình hoặc UAV Mỹ.
Trong khi đó, Trung Quốc dự kiến dùng tên lửa đông phong 26 để nhắm vào các căn cư Mỹ tại Nhật Bản, Philippines, Guam và đảo Tinian.
Nhưng với số lượng tên lửa đông phong 21 giảm mạnh từ 134 chiếc năm 2022 xuống 24 chiếc năm 2024 và hiệu quả của tên lửa Patriot của Mỹ đã được chứng minh,
khả năng Trung Quốc thực hiện các cuộc tấn công bão hòa đồng loạt trở nên khó khăn.
Lực lượng máy bay quân sự thế hệ thứ 5 của Mỹ bao gồm F-22 và F-35 tiếp tục được triển khai linh hoạt,
có thể di chuyển giữa các sân bay mà không bị giang buộc bởi vị trí cố định.
Điều này khiến Trung Quốc không chỉ bị động mà còn dễ dàng rơi vào thế bị bảo vầy,
trong khi J-20 dù là kỳ vọng lớn nhất của Bắc Kinh, vẫn chưa thể che lấp những hạn chế chiến lược và công nghệ vôn có.
Thời gian xuất kích của J-20 sẽ bị hạn chế
Dù J-20 của Trung Quốc có thể sống sót qua đợt tấn công tên lửa đầu tiên từ quân đội Mỹ,
thách thức không dừng lại ở đó.
Với thời gian hoạt động hạn chế, J-20 sẽ sớm phải quay trở lại sân bay để tiếp nhiên liệu,
tạo cơ hội cho Mỹ tiếp tục các đợt tấn công tiêu diệt.
Nếu các sân bay ven biển bị phá hủy, thì J-20 sẽ buộc phải bay sâu vào nội địa để mà hạ cánh,
kéo dài khoảng cách và làm giảm đáng kể hiệu quả chiến đấu.
Mặc dù có thể tiếp nhiên liệu và cất cánh từ các sân bay nội địa,
khoảng cách xa khiến J-20 phải giảm thời gian hiện diện trên bầu trời khu vực chuỗi đảo thứ nhất.
Điều này buộc Trung Quốc phải luân phiên sử dụng phi đội J-20,
nhưng ngay cả với 200 chiếc, chỉ một nửa số đó có thể thực sự tham chiến tại bất kỳ thời điểm nào.
Trong khi đó, máy bay chiến đấu của Mỹ nhờ số lượng lớn máy bay tiếp dầu
có thể duy trì hiện diện trên không lâu hơn và hiệu quả hơn.
Với số lượng máy bay thế hệ thứ 5 vượt trội, quân đội Mỹ sẽ dễ dàng chiếm được ưu thế
với tỷ lệ trên không là 2 trên 1, thậm chí có thể tăng lên là 3 đấu 1 hoặc cao hơn nữa.
Ngoài ra, J-20 phụ thuộc nặng nề vào đội ngũ kỹ thuật mặt đất để bảo dưỡng.
Trung Quốc hiện thiếu hụt nhân tài có chuyên môn cao trong lĩnh vực này
và khiến việc duy trì hoạt động của J-20 trở nên khó khăn hơn,
đặc biệt nếu chiến sự buộc các máy bay này phải di chuyển liên tục giữa các sân bay nội địa.
Trong khi đó, Mỹ có khả năng triển khai máy bay ném bom B-2 và sắp tới là B-21,
đủ sức tấn công cả các sân bay sâu trong nội địa Trung Quốc,
khiến việc vận hành và bảo trì J-20 càng trở nên phức tạp.
Cùng với J-20, các dòng máy bay khác như J-16 hay J-35 cũng phải đối mặt với thách thức lớn hơn.
Tầm bay ngắn hơn của chúng khiến chúng phụ thuộc nhiều hơn vào các sân bay ven biển,
làm gia tăng tác động từ các đợt tấn công không kích của Mỹ.
Một khi chiến tranh nổ ra, hiệu quả chiến đấu của toàn bộ phi đội không quân Trung Quốc
sẽ suy giảm nghiêm trọng, trong khi Mỹ tiếp tục duy trì ưu thế vượt trội
cả về công nghệ, chiến lược và thời gian hiện diện trên không.
Khả năng tác chiến trên không của J-20 và J-35
Mặc dù J-20 và J-35 của Trung Quốc được phát triển dựa trên việc sao chép các thiết kế của F-22 và F-35,
chúng vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể về tính năng.
Về khả năng tàng hình, J-20 chỉ có thể đạt được hiệu quả tàng hình ở chính diện,
trong khi từ các góc độ khác nó dễ dàng bị phát hiện.
Trong khi đó, cả F-22 và F-35 Mỹ đều có khả năng phát hiện J-20 và J-35
từ khoảng cách xa hơn và thực hiện tấn công trước.
Một minh chứng là quân đội Mỹ đã xác nhận F-35 từng phát hiện J-20 và máy bay cảnh báo sớm của Trung Quốc,
nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy J-20 phát hiện được F-35.
Về vũ khí, tên lửa không đối không AM-260 của Mỹ với tầm bắn lên đến 200km
mang lại lợi thế vượt trội trong tấn công tầm xa.
Trong khi Trung Quốc tuyên bố tên lửa không đối không Pili-15 có tầm bắn tương đương hoặc thậm chí được vượt trội,
giới phân tích tin rằng khả năng phát hiện mục tiêu radar J-20 chỉ dơi hạn ở khoảng 100km.
Điều này buộc J-20 phải dựa vào sự hỗ trợ từ các máy bay cảnh báo sớm,
nhưng khả năng dẫn đường từ xa của Bắc Kinh vẫn chưa thể so sánh với hệ thống tiên tiến của Mỹ.
Đáng chú ý, Mỹ gần đây đã giới thiệu tên lửa phóng từ trên không Standard 6 AM-174
với tầm bắn lên tới 460km, mang lại lợi thế không chỉ trong việc tiêu diệt máy bay cảnh báo sớm
mà còn nhắm mục tiêu của J-20 và các máy bay chiến đấu khác của Trung Quốc.
Hơn nữa, các máy bay của Mỹ sử dụng liên kết dữ liệu Linh-16 để chia sẻ thông tin và dẫn đường cho tên lửa,
tạo nên ưu thế chiến thuật vượt trội mà Trung Quốc hiện không thể sánh kìm.
Một hạn chế khác của J-20 là việc thiếu khả năng chiến đấu ngoài tầm nhìn.
Điều này lý giải tại sao các phi công Trung Quốc thường được huấn luyện nhiều hơn trong các trận không chiến tầm gần,
nơi mà khả năng của máy bay bị dơi hạn.
Tuy nhiên, J-20 lại không được trang bị pháo máy, khiến nó bất lợi ngay cả trong những cuộc giao tranh ở khoảng cách gần.
Và trong bối cảnh này, J-20 và J-35 khó có thể là đối thủ xứng tầm với các máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 của Mỹ.
Những hạn chế về tàng hình, tầm bắn và khả năng phối hợp chiến đấu từ xa
sẽ tiếp tục là rào cản lớn đối với tham vọng của Trung Quốc trên bầu trời hiện đại.
Trung Quốc rơi vào 7 tiêm kích chiếm ưu thế trên không
Không quân của nhiều quốc gia hiện nay chủ yếu trang bị các máy bay chiến đấu đa năng,
nhưng Trung Quốc vẫn dựa nhiều vào các dòng máy bay sao chép từ thiết kế của Nga.
J-11, một bản sao của Su-27, từng là trụ cột trong không quân Trung Quốc, này đã lỗi thời và dần bị thay thế.
Số lượng J-11 đã giảm từ 349 chiếc vào năm 2022 xuống chỉ còn 327 chiếc vào năm 2024,
chỉ còn phục vụ trong 7 lữ đoàn, thấp hơn nhiều so với J-20 hay là J-16.
Trung Quốc cũng nhập khẩu Su-30 và Su-35 từ Nga,
nhưng hiệu suất kém cỏi của chúng trong cuộc chiến Nga-Ukraine đã khiến Bắc Kinh mất niềm tin.
Thay vào đó, Trung Quốc tập trung sản xuất J-16, một phiên bản sao chép từ Su-30.
Dù số lượng J-16 tăng mạnh từ 60 chiếc năm 2020 lên 262 chiếc năm 2024,
tốc độ tăng trưởng đang chậm lại do nước này không rõ vai trò chính xác của dòng máy bay này.
J-16 được kỳ vọng vừa thay thế J-11 trong vai trò chiếm ưu thế trên không,
lại vừa tăng cường khả năng tấn công vào đất.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của máy bay thế hệ thứ 5 của Mỹ,
đặc biệt là F-22 và F-35, đã khiến Trung Quốc buộc phải đặt cực nhiều hơn vào J-20 và J-35.
J-20 được sao chép từ F-22, cố gắng đóng vai trò máy bay chiếm ưu thế trên không,
nhưng chi phí chế tạo cao, lên tới hơn 100 triệu USD một chiếc,
đã khiến nó khó duy trì được số lượng lớn.
Hơn nữa thì J-20 không có khả năng không kích đáng kể,
thậm chí là thiếu cả pháo máy để tấn công mặt đất,
làm hạn chế vai trò của nó trong các chiến dịch đa nhiệm.
J-35 được phát triển để bắt trước F-35,
gặp khó khăn trong việc tích hợp vũ khí không đối đất
và khiến nó vẫn nghiêng về vai trò chiếm ưu thế trên không
hơn là trở thành một máy bay đa năng thực sự.
Trong khi đó, quốc đội Mỹ đã hoàn thiện đội hình máy bay chiến đấu và tấn công đa nhiệm.
F-22 chiếm ưu thế trên không mở đường cho các cuộc tấn công,
trong khi F-35, B-2, B-1B, B-52 và sắp tới là B-21 đảm bảo khả năng tấn công toàn diện từ xa.
Kết hợp với các máy bay như F-15, F-16 và F-A-18,
Mỹ duy trì lợi thế cả về số lượng và chất lượng.
Phương pháp của Mỹ để đối phó với J-20 và các máy bay khác của Trung Quốc
không chỉ dừng lại ở không chiến.
Các đợt tấn công nhắm vào sân bay ven biển của Trung Quốc
sẽ khiến J-20 gặp khó khăn trong triển khai từ các khu vực gần biển,
buộc chúng phải rút về sâu trong nội địa,
làm giảm hiệu quả chiến đấu.
Mặc dù Trung Quốc nhận thức được những nhược điểm này,
họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục đầu tư vào J-20 và J-35,
ngay cả khi điều này đẩy họ vào cuộc đua vũ trang tốn kém và đầy bất lợi.
Những thay đổi trong việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan
Thưa quý vị, chính quyền mới của Tổng thống đắc cử Donald Trump
sẽ đối mặt với nhiều quyết định quan trọng trong chính sách đối ngoại
và cách đối phó với mối đe dọa ngày càng lớn từ Trung Quốc tại eo biển Đài Loan
sẽ là một thử thách lớn.
Vấn đề này không chỉ định hình quan hệ Mỹ-Đài,
mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến chiến lược Thái Bình Dương của Washington,
đặc biệt trong bối cảnh nhạy cảm với việc bán vũ khí cho Đài Loan.
Chính sách mơ hồ chiến lược của Hoa Kỳ đối với Đài Loan
từ trước đến nay đã góp phần răn đe Trung Quốc khỏi các hành động thiếu suy nghĩ
bởi Bắc Kinh không thể dự đoán rõ là Washington sẽ phản ứng thế nào
trước một cuộc khủng hoảng tại eo biển.
Tuy nhiên, với các cuộc tập trận quân sự quy mô lớn
và mang tính đe dọa của Trung Quốc gần Đài Loan,
khả năng bao vây phong tỏa và tấn công hòn đảo này ngay càng rõ rệt,
làm ra tăng những yếu tố không chắc chắn
và thách thức các thông lệ chính sách đối ngoại
đã được Hoa Kỳ duy trì trong nhiều thập kỷ.
Đài Loan gần đây đã bày tỏ hy vọng khởi động gói mua sắm vũ khí trị giá hơn 15 tỷ USD
để tăng cường năng lực phòng thủ.
Danh sách mong muốn của Đài Bắc bao gồm 60 máy bay chiến đấu F-35,
4 máy bay cảnh báo sớm E-2D Hawk-I, 400 tên lửa Patriot
và 10 tàu khu trục Aegis lớp Alibaba đã nghỉ hưu.
Ngoài ra Đài Loan cũng muốn tiếp cận hệ thống chiến đấu Aegis của Lockheed Martin,
tận dụng khả năng tích hợp vệ tinh và tên lửa phòng không
để phát hiện và tiêu diệt tên lửa đạn đạo đang bay tới.
Dù chưa có danh sách mua sắm chính thức được đệ chỉnh,
các quan chức an ninh cấp cao của Đài Loan cho biết là họ sẵn sàng thảo luận
với chính quyền Trump về các phương án tăng cường khả năng phòng thủ.
Đài Bắc cũng thường xuyên trao đổi với các đảng chính trị lớn và tổ chức nghiên cứu của Mỹ
để đánh giá xem phần cứng và phần mềm quân sự hiện có của mình
có đủ đối phó với bất kỳ cuộc tấn công nào từ Trung Quốc hay không.
Khi chính quyền Trump chuẩn bị nhập chức, Đài Loan kỳ vọng sẽ có sự đột phá
trong nội dung mua sắm quân sự, đánh dấu một bước tiến mới trong quan hệ Mỹ-Đài.
Tuy nhiên, những thỏa thuận này có thể trở thành tâm điểm tranh cãi
không chỉ trong nội bộ chính quyền Trump,
mà còn trong mối quan hệ phức tạp giữa Mỹ, Đài Loan và Trung Quốc.
Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống đắc cử Trump,
việc bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan đã diễn ra theo hướng có lợi cho hòn đảo này,
với sự hỗ trợ quân sự được chia thành hai hình thức chính,
bán hàng quân sự nước ngoài, FMS và ủy quyền rút vốn của Tổng thống, PDA.
PDA đặc biệt quan trọng do tốc độ nhanh chóng và tính miễn hoàn lại,
mang lại lợi thế lớn trong việc hiện thực hóa năng lực quân sự của Đài Loan
trước những mối đe dọa từ Trung Quốc.
FMS, dù mang tính dài hạn, vẫn đang gặp vấn đề về chậm chẽ giao hàng.
Đây là thách thức lớn mà Đài Loan kỳ vọng sẽ được giải quyết
trong nhiệm kỳ tiếp theo của Trump.
Trong khi đó, PDA đóng vai trò không thể thiếu,
đặc biệt là khi tình hình eo biển Đài Loan đang thay đổi đột ngột
hoặc trong các dự án yêu cầu thời gian gấp rút như là đánh giá năng lực và đào tạo.
Với áp lực từ mục tiêu phát triển khả năng răn đe quân sự vào năm 2027,
PDA là công cụ quan trọng để Đài Loan đạt được sức mạnh cần thiết
mà không thể dựa vào các dự án nội địa hoặc mua sắm thông thường trong ngắn hạng.
Mặc dù vậy, tính không ổn định của PDA cũng tạo ra sự lo ngại,
đặc biệt khi nó dễ bị ảnh hưởng bởi thay đổi trong chính sách của chính phủ Mỹ.
Tuy nhiên, nguyên tắc bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan vẫn dựa trên mức độ đe dọa từ Trung Quốc.
Trước sức ép ngày càng tăng từ Bắc Kinh, nhiều chuyên gia cho rằng Mỹ có thể sẽ nới lỏng
các hạn chế về chủng loại, số lượng và chu kỳ cung cấp vũ khí,
nhất là những thiết bị phòng thủ mà Đài Loan vẫn còn nhiều lỗ hổng.
Tổng thống đắc cử Trump từng tuyên bố rằng Đài Loan phải trả phí bảo vệ,
nhưng điều này không nhất thiết cản trở việc mua vũ khí của Đài Loan.
Hòn đảo này không tìm kiếm vũ khí giá rẻ hoặc miễn phí nuklina,
mà tập trung vào các hệ thống vũ khí tiên tiến để đối đầu với Trung Quốc ở cấp độ cao hơn.
Những khoản đầu tư lớn vào vũ khí và thiết bị hiện đại giúp Đài Loan đạt được khả năng chiến đấu
bất đối xứng hiệu quả hơn trong thời gian ngắn,
dù họ phải tri tiêu một cách thận trọng và thông minh.
Việc mua bán vũ khí Mỹ-Đài vẫn xoay quanh hai vấn đề cốt lõi,
chiến lược nào phù hợp nhất và loại vũ khí nào đem lại lỡ ích lớn nhất cho Đài Loan.
Cả hai bên sẽ tiếp tục thảo luận sâu hơn về những yếu tố này
để bảo đảm Đài Loan có thể phát triển khả năng phòng thủ hiệu quả
trước các mối đe dọa ngày càng lớn từ Trung Quốc.
Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng vũ khí từ Bắc Kinh
đã thúc đẩy Đài Bắc quan tâm mạnh mẽ hơn
đến việc nâng cấp các thiết bị quân sự quy mô lớn.
Tuy nhiên, những lựa chọn này không chỉ hướng đến việc củng cố năng lực quốc phòng,
mà còn phản ánh sự dịch chuyển chiến lược trong khái niệm phòng thủ tổng thể kiểu nhím,
vốn nhấn mạnh vào chiến đấu bất đối xứng, sang một tư duy phối hợp chiến đấu hiện đại hơn.
Theo nhà nghiên cứu Tô Tử Vân từ Viện Quốc phòng và An ninh Đài Loan,
trong điều kiện ngân sách hạn chế, các ưu tiên của Đài Loan
nên tập trung vào các vũ khí chiến lược như tên lửa Patriot, máy bay cảnh báo sớm E-2D,
tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường Love Perry và cuối cùng là máy bay chiến đấu F-35.
Việc mua sám này không chỉ đáp ứng nhu cầu phòng thủ,
mà còn bổ sung năng lực nội địa trong khuôn khổ nguyên tắc độc lập quốc phòng.
Một điểm nổi bật là sự quan tâm của Đài Loan đối với F-35,
dòng máy bay chiến đấu tàng hình hàng đầu của Mỹ.
So với J-35 của Trung Quốc, F-35 vượt trội về khả năng tàng hình,
tác chiến điện tử, cơ động và công nghệ phòng thủ chủ động.
F-35 không chỉ đóng vai trò độc lập như một máy bay chiến đấu đa năng,
mà còn trở thành cảm biến và nút thông tin quan trọng trong hệ thống chỉ huy chiến trường,
tạo nên một lợi thế đáng kể trước các mối đe dọa quân sự từ Trung Quốc.
Mặc dù các ý tưởng mua sám lúc này mang tính chiến lược
và có tiềm năng nâng cao năng lực của Đài Loan,
thách thức lớn nhất vẫn là làm thế nào để tối ưu hiệu quả trong điều kiện ngân sách hạn hẹp.
Điều này đòi hỏi sự khôn ngoan từ các nhà hoạch định quốc phòng của Đài Loan
trong việc lựa chọn các hệ thống có thể tạo ra khả năng phối hợp chiến đấu chung với các đội mình.
Các vũ khí như máy bay cảnh báo sớm E-2D, tàu khu trục Aegis và F-35
đều thuộc hệ thống chỉ huy và kiểm soát thông tin chiến trường chung,
có khả năng hoạt động độc lập hoặc phối hợp trong mạng lưới.
Máy bay cảnh báo sớm E-2D không chỉ cung cấp tình báo, giám sát và trinh sát,
mà còn liên kết các đơn vị chiến đấu khác như máy bay, tàu chiến và hệ thống phòng không
thông qua liên kết dữ liệu chiến trường.
Tàu khu trục Aegis có thể đánh chặn các mục tiêu với sự hỗ trợ của dữ liệu từ vệ tinh và cảm biến khác.
Điều này giúp Đài Loan không chỉ tự phòng thủ,
mà còn tích hợp sâu hơn vào mạng lưới tác chiến khu vực với các đội mình.
Vâng thưa quý vị, chính phủ và quốc hội Mỹ cũng hiểu rằng,
việc hỗ trợ Đài Loan không chỉ để hòn đảo này tự vệ,
mà còn nhằm xây dựng một mạng lưới phòng thủ khu vực rộng lớn hơn.
Với vị trí chiến lược trong chuỗi đảo thứ nhất và trước sự bành trướng của Bắc Kinh,
Đài Loan đóng vai trò ngày càng quan trọng trong chiến lược Tây Thái Bình Dương của Mỹ.
Chính quyền Trump có thể sẽ áp dụng cách tiếp cận cởi mở hơn trong vấn đề bán vũ khí,
không chỉ tăng cường sức mạnh cho Đài Loan,
mà còn tạo sức mạnh tổng hợp lớn hơn trong liên minh với các đối tác khu vực,
nâng cao khả năng cạnh tranh của Hoa Kỳ trước Trung Quốc.
Và đến đây, chương trình ngày hôm nay của chúng tôi cũng xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị để lại bình luận và quan điểm cá nhân của mình ở phần dưới.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
