Phát Hiện BÍ ẨN RỢN NGƯỜI Che Giấu Dưới Chân CHÙA MỘT CỘT Cả Nước Ngỡ Ngàng ! | Triết Lý Tinh Hoa
LINH DAN
280 người theo dõi
#linhdan
#Trietlytinhhoa #vandehomnay #tintuc24h
Mô Tả Nội Dung: Phát Hiện BÍ ẨN RỢN NGƯỜI Che Giấu Dưới Chân CHÙA MỘT CỘT Cả Nước Ngỡ Ngàng ! | Triết Lý Tinh Hoa
=================
"Triết Lý Tinh Hoa" - Ngôi nhà tri thức về Triết lý và Cuộc sống! bằng Cập nhật tin tức 24h trong ngày
===================
vấn đề hôm nay, báo vtc, tin tức trong ngày, tin tức, tin nóng, tin tức hôm nay, tin tức mới nhất hôm nay, tin tức mới nhất, tin thời sự, tin tức 24h, tin thời tiết, dự báo thời tiết, biến đổi khí hậu, triết lý cuộc sống. phụ nữ, hôn nhân gia đình
Cách nội dung này được tạo ra
Nội dung đã được chỉnh sửa hoặc nội dung nhân tạo
Âm thanh hoặc hình ảnh đã được chỉnh sửa đáng kể hoặc tạo bằng công nghệ số. Tìm hiểu thêm
Lần đầu tiết độ bí mật động trời dưới chân chùa Một Cột sau hàng nghìn năm che giấu, khiến cả Việt Nam sửng sốt.
Mến chào quý vị đang đến với kênh Triết Lý Tình Hòa.
Quý vị thân mến, thời gian gần đây, nhiều du khách xôn sao tìm đến tháp hương khấn phái tại một ngôi chùa
nằm trong quần thể khu diệt tích cổ đô Hoa Lư Ninh Bình.
Đó là chùa Nhất Chủ hay còn được gọi là chùa Một Cột.
Tương truyền rằng những cột đá ở nơi này chính là nơi mà bẻ lũ Trung Quốc chọn làm nơi để giấu hàng tấn vàng bạc trô báu quý giá.
Để chiếm đoạt số của cải này, những kẻ có lòng tham, vô đáy, giáo riết truy tìm tông tích, mù quáng đập phá để rồi rơi vào chuỗi bi kịch nối tiếp nhau.
Kẻ đau ốm triển miên, kẻ thì thân bại danh liệt.
Vậy trong cột đá này có vàng thật không? Và đây có phải là một trong những âm mưu thâm độc mà Trung Quốc muốn chấn ỉm nước ta?
Hãy cùng Triết Lý Tinh Hoa tìm hiểu ngay sau đây!
Quý vị thân mến, chùa Nhất Chủ hay còn được gọi là chùa Một Cột là một trong những ngôi chùa nổi tiếng đã được xếp hạng diệt tích cấp quốc gia
nằm trong quần thể khu diệt tích cổ đô Hoa Lư, tọa lạc tại thôn Nam, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư,
cách đèn thờ Vô Đinh và Vô Lê khoảng 150m về phía bắc.
Tên của chùa có từ xa xưa gắn liệt với một hiện vật đặc biệt được lưu giữ tại chùa,
đó là cột trụ kinh đá, hiện vật có giá trị lịch sử văn hóa đặc biệt.
Sau khi thống nhất các xứ quân, lập nên nhà nước đại cổ Việt, các vô triều Đinh và Tiền Lê luôn quan trọng Phật giáo,
các nhà sư như Ngô Trân Lưu, Đỗ Thuận được tham dự công việc triều chính.
Luận bàn chính sự, thực hiện nhiệm vụ ngoại giao tiếp các xứ giả nhà tống.
Triều Đình ban phẩm hàm cho các vị tăng sĩ, biết là một thời kỳ thịnh đạt của Phật giáo Việt Nam.
Tại khu diệt tích cổ đô Hoa Lư, hiện còn bảo tồn được nhiều ngôi chùa cổ.
Theo truyền thuyết có từ thời Đinh, Tiền Lê, thế kỷ 10 như chùa Am, chùa Đề, chùa Ngân, chùa Nhất Trụ, chùa Bán Ngô,
trong đó chùa Nhất Trụ là ngôi cổ tự có giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt,
đã được xếp hạng là di tích cấp quốc gia năm 1997.
Chùa Nhất Trụ không chỉ là tự viện quan trọng của Phật giáo tại Ninh Bình,
mà còn là không gian văn hóa tín ngưỡng, địa điểm tổ chức hội hè, tế lễ hàng năm của nhân dân địa phương.
Đặc sắc nhất là lễ khao tống, thuyền rồng được tổ chức vào ngày rằm tháng riêng hàng năm.
Vào ngày này, trước sân chùa lập đàn tế, đèn nến sáng trưng, phía dưới bàn thờ là một chiếc thuyền lớn được đan bằng tre.
Xung quanh dán giấy màu xanh, vàng, đỏ, tím, trắng.
Đầu thuyền uốn thành hình đầu rồng dán giấy màu vàng, vẩy màu bạc, kim tuyến.
Trong lòng thuyền đặt tiền vàng giấy sớ.
Sau khi nhà sư hành lễ, thuyền rồng được dân làng rước ra bến trước cửa đèn thờ vô định
để thả xuống sông cùng với chiêng trống thanh la, não bạc vàng động.
Thuyền được thả trôi sông sau khi nhà sư châm hóa giấy sớ.
Đây là lễ cúng Phật cầu nguyện cho quốc thái dân an, cầu cho nhân dân trong vùng bình an thịnh vượng.
Chùa Tọa Lạc, trên khoảng đất rộng gần một mẫu bắc bộ, gần sông Sào Khê, trông về hướng Tây.
Ngay phía trước chùa là đình làng Yên Thành, thờ vô định tiên hoàng và vô lê đại hành.
Tam quan chùa xây gạch, có ba cửa.
Phía trên xây kiểu hai tầng tám mái, dán ngói vẩy.
Cửa giữa lớn nhất, mặt ngoài có đắp đải tự bằng chữ Hán, nhất trụ tự, tức chùa nhất trụ.
Tầng trên trao quả trung lớn, các hạng mục kiến trúc chính trong khuôn viên gồm chùa chính, nhà tổ, nhà mẫu, nhà khách,
lầu thờ khổng tử, nhà che cột kinh, khu vườn tháp và các công trình phụ trợ khác.
Di thích đã được tu bổ tôn tạo tổng thể trong những năm gần đây.
Tuy nhiên chỉ còn chùa chính giữ được kiến trúc gốc thời Nguyễn.
Chùa chính bố cục hình chữ Đinh, gồm tiền đường và thượng điện.
Tiền đường có một tầng hai mái, xây kiểu tường hồi bít đốc, 5 gian.
Các bộ vì nóc gian giữa kiểu giá chiêng, vì nách dùng kẻ ngồi.
Các cấu kiện chủ yếu được bào soi gờ chỉ, đầu xà lòng có trạm văn triện, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Thượng điện ba gian thở dọc, nối liền với gian giữ tiền đường.
Vì nóc kiểu ván mê không trạm khắc, vì nách dùng kẻ.
Đặc biệt có dép nóc đỡ thượng lương, tạo tác hình vân xoắn và bông sen đẹp và lạ, ít gặp trong các di thích khác.
Thượng điện là không gian cho việc bài trí tượng vật với các lớp tượng tam thế, di đã tam tôn, quan âm chuẩn đề, quan âm tỏa sơn, thích ca sơ sinh.
Hệ thống hiện vật ở chùa nhất trụ tương đối phong phú và đa dạng, với hàng chục pho tượng và các đồ thờ tự khác.
Đặc biệt nhất trong đó là cột kinh phật, được đặt trong nhà tre dạng lầu hai tầng tám mái, nằm trách về phía bắc sân chùa, ngay phía sau tam quan.
Thạch kinh từng xuất hiện lần đầu tiên ở Trung Quốc vào năm 971, khi được vua tống cho khắc kinh Đại Tạng lên cột đá để cúng giường.
Chỉ sau hai năm, năm 973, Nam Việt Vương Liễn, con trai vua đinh tiên hoàng đã trò dựng ở Hoa Lư 100 cột kinh phật bằng đá khắc kinh Đà La Ni, từ đây về sau tạo thành một dòng chảy thạch kinh trong văn hóa Việt Nam.
Kinh Tràng Hoa Lư là biểu tượng của Pháp trong tam bảo nhà Phật.
Sau nhà đinh, cột kinh Phật Chùa Nhất Trụ được vua Lê Đại Hành cho xây dựng vào năm 995 để cầu quốc thái dân an, triều đình vững mạnh.
Cột kinh Phật này có cấu tạo độc đáo, với nhiều hóa tiết trang trí tinh tế, thể hiện tinh hoa nghệ thuật chảm khắc chữ trên đá của cha ông ta từ thỏa xa xưa.
Thỏa tiên sử sơ khai, từ công cụ lao động tới mọi vật dụng đều được làm từ đá, rìu đá, dao đá, lưỡi cải đá.
Do đó đá chính là dư âm từ ngàn xưa còn vọng lại ngày nay và trở thành linh khí.
Điều đó dễ dàng lý giải cho việc tại sao người xưa lại chọn đá làm vật điệu lưu giữ những bản kinh Phật quý giá lưu truyền tới ngàn đời sau.
Những cột kinh được tìm thấy ở cố đô Hoa Lư đều được làm bằng đá xanh, bao gồm 6 bộ phần đều làm bằng đá có tuổi địa chất khoảng 300 triệu năm.
Tàng, đế, vuông, đế tròn, thân bát giác, thớt bát giác, đấu bát giác và bông hoa đá tám cánh và đỉnh hồ lô.
Hình dáng kết cấu đều giống với thạch kinh ở Chùa Nhất Trụ.
Nhưng kích thước nhỏ hơn và không có hàng hoa văn cánh sen ở bể dưới cùng.
Điều đó cho thấy nét đặc biệt trong nghệ thuật tạo hình cũng như tính độc bản quý giá của thạch kinh Chùa Nhất Trụ.
Thạch kinh này được đặt ở sân trước trên về phía tây của Chùa Nhất Trụ giống như các cột kinh cũng được tìm thấy tại cố đô Hoa Lư.
Thạch kinh này cũng được tạo nên bởi 6 bộ phần bằng đá lắp gá vào nhau, đứng vững trên mặt đất, đế vuông, đế tròn, thân bát giác, đấu hoa sen tám cánh và đỉnh hồ lô.
Theo số liệu khảo sát tất cả các bộ phần gắn với nhau hoàn toàn không sử dụng chất kết dính,
nhưng rất vững chảy dù đã trải qua hàng nghìn năm mưa gió.
Điều đó có được là nhờ những ngõng kết nối tại các bộ phần của thạch kinh.
Xung quanh cột kinh Phật này còn gắn liền với những câu chuyện vô cùng bí ẩn.
Không chỉ là hiện vật đầu tiên tại Ninh Bình được công nhận là bảo vật quốc gia,
cột kinh Phật bằng đá trước khoảng 2.500 ký tự còn được biết đến là nơi giấu vàng của người Tàu.
Thương truyền rằng năm xưa khi Giặc Phương Bắc sang xâm lược nước ta,
chúng đã bỏ công bỏ sức nghiên cứu và lựa chọn cột kinh này là nơi để cho vàng vào bên trong.
Nhiều người vì hiếu kỳ nên đã tìm đến Chùa Nhất Trụ, đập phá để chiếm hưu số vàng trong đó.
Dù cố gắng, nỗ lực đến đâu họ cũng không thể nào đánh cắp được cột đá này.
Nhiều người đã phải hoảng hốt sợ hãi khi phát hiện những bí ẩn bên trong cột đá.
Vậy rốt cuộc bên trong cột đá này có chứa vàng hay không?
Âm mưu thâm độc của Trung Quốc khi giấu lượng vàng lớn ở ngôi chùa cổ Việt Nam là gì?
Theo ghi chép của Chùa Nhất Trụ, tảng đế dưới cùng có hình gần vung góc mỗi chiều 140cm, dày 30cm,
lỗ mọng tròn ở giữa tảng, có đường kính 29cm, sầu 55cm, đế tròn trên to dưới nhỏ, dày 32.5cm, đường kính phía trên 76cm, đường kính phía dưới 66cm.
Bên dưới đế có ngõng tròn đường kính 15.5cm, dài 3.5cm, ngõng lắp vừa khít vào lỗ mọc ở tảng đế vuông.
Trên mặt đế tròn có lỗ mọng đường kính 34.5cm, sầu xín cm, bao quanh đế cột có vòng cánh sen đường kính 107cm với tổ hợp 22 cánh đơn,
chiều dài mỗi cánh 15-17cm, rộng 13cm. Cánh sen thon tương tự cánh sen trên một số tảng đá là mực đi ở trong Động Am Tiên.
Tương truyền Động và Chùa Am Tiên là nơi vua Đinh nuôi nhốt hổ, báo để trưng trị những kẻ phản quốc hoặc có tội nặng.
Theo các nhà nghiên cứu về vật giáo nói riêng và nghệ thuật kiến trúc nói chung thì những cánh sen xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam trong kiến trúc nghệ thuật
cùng các hình thức trang trí cánh sen trong kiến trúc nhà Lý Trần để bắt nguồn từ cột kinh lăng nghiêm.
Quan sát kỹ sẽ thấy thân cột bát giác có số đo qua tầm hai mặt đối diện là 65cm. Hai đầu cột đều có ngõng cắm vào đế và thớt.
Thớt bát giác dài 13cm có số đo qua tầm hai mặt đối diện là 61cm ở phía dưới và 65cm ở phía trên.
Như vậy cột đá có dáng trên to dưới nhỏ. Hai đầu cột đều có ngõng cắm vào đế và thớt.
Ngõng dưới dài 5cm, đường kính 16cm, ngõng trên dài 6cm, đường kính 18cm.
Thớt bát giác có số đo qua tầm hai mặt đối diện là 69cm, dài 13cm, mặt trên phẳng, mặt dưới có lỗ mỏng sâu 7cm, đường kính 31cm để ngậm vào ngõng trên của thân.
Đấu cao 26cm có đường gỡ miệng uốn đượn tạo nên tám đỉnh nhọn, phía dưới được thu nhỏ tạo thành hình tròn, phía trên đấu có lỗ mỏng tròn sâu 7cm để gắn tróp hổ lô.
Tróp trên cùng đã bị mất nhưng can cứ vào tróp trên những cột kinh đinh liễn so sánh tỷ lệ với thân.
Các nhà khoa học đoán định tróp có hình chiếc hổ lô thóp bụng, cổ dài, miệng tù, cao 80cm, đường kính 30cm.
Trên 8 mặt của thân cột khác đầy chữ Hán nhưng trải qua thời gian hơn 1.000 năm, nửa dưới và 3 mặt nửa trên cột đã bị mờ hoàn toàn, 5 mặt nửa trên còn lại cũng không đọc được nguyên vẹn.
Nếu có nguyên vẹn ước khoảng 2.500 chữ, giờ đây số chữ có thể khổ tâm đọc được hoặc nhận dạng là 1.200 chữ.
Theo sư thầy trụ trì Chối nhất trụ thì nội dung văn tự có 3 phần kệ, kinh, lạc khoản.
Nội dung văn tự là kinh thổ lăng nghiêm, ca ngợi sự bền vững của Đức Phật, sự to lớn bao trùm của tài năng Phật như Lai.
Từ xưa tại đài xét này đã tồn tại những câu chuyện liên quan đến việc giấu vàng của người Tàu.
Minh chứng rõ nhất là phần rời của phía trên cột kinh là nơi để cho vàng vào bên trong.
Vào tháng 5 năm 1991, bảo tàng tỉnh Hà Nam Ninh, nay là Ninh Bình, đã khai quật.
Cạnh dốc phía nam chùa nhất trụ, phía trước nhà tổ ở độ sâu 60cm, đã phát hiện 2 móng đá hình vuông nằm cách nhau 1,5m.
Mỗi móng đá có kích thước 130cm x 130cm, dày 1m.
Dưới lớp móng đá là móng bè gỗ lim, gồm 4 lớp phiến lim gần vuông, dày từ 25-30cm, xếp trồng lên nhau theo hướng Bắc Nam và Đông Tây.
Cùng với móng đá là những mảnh gạch có trang trí hoa sen và đôi phượng vòn nhau, cành cây mục và vò sáu núm.
Đây là loại móng đá khá dày và cấu trúc công phu, chứng tỏ công trình kiến trúc xưa kia phải rất to lớn.
Có thể đây là móng của một kiến trúc tháp của Chùa Nhất Trụ vào thời Tiền Lê.
Như vậy, truyền thuyết có vàng ở chân Chùa Nhất Trụ vẫn chỉ là những câu chuyện mang tính hư cấu, nhưng nhiều người ở địa phương vẫn tin vào điều ấy.
Kỳ lạ chuyện quanh phô tượng bất chấp chất nổ trong Chùa Một Cột
Đa số trong chúng ta đều biết về Chùa Một Cột, một biểu tượng của văn hóa kiến trúc Việt Nam nhưng hầu như còn chưa biết tới một nghi án.
Sắp ngày chính phủ đã tiếp quản Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 1954, lực lượng nào đã nổ phá Chùa Một Cột.
Đến cuối năm 1954, khi thi hành Hiệp định Geneva, quân Pháp sửa soạn rút lùi khỏi Hà Nội và miền Bắc,
thì có kẻ lã mặt đặt thuốc nổ phá hủy Chùa Một Cột ngày 11 tháng 9 năm 1954, dằm tháng 8 âm lịch.
Liên hoa đài bị phá hủy từ mặt sàn trở lên vì chất nổ được giấu ở dưới bát nhang.
Tuy nhiên, phô tượng quan âm nơi đây vẫn ngồi y nguyên ở gần ngay đấy, chỉ bị dở đi mấy cánh tay gỗ chắp.
Liên hoa đài theo sự biên niên đã được dựng vào thờ lý năm 1949.
Đại Việt sử ký Toàn Thư ghi, mùa đông tháng 10 âm lịch dựng chùa riêng hữu ở Vườn Tây Cấm,
bên phía Tây Cấm Thành Thăng Long.
Trước đấy, vua Lý Thái Tông, 1028-1054, chiêm bao, thấy đức vật quan âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa.
Khi vua tỉnh dậy, vua đem việc đó nói với thầy bầy tôi.
Có người cho là điểm không lành.
Có nhà sư thiền tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hồ,
làm tòa sen của vật quan âm đặt trên cột trụ như đã thấy trong mộng.
Cho các nhà sư đi vòng lượn chung quanh tụng kinh, cầu cho vua trưởng thọ.
Vì thế gọi là chùa riêng hữu, tức kéo dài tuổi thọ.
Năm 1105, vua Lý Nhân Tông lại cho sửa sang, tô điểm lên hoa đài, đào thêm hồ xây tháp báu ở phía trước.
Văn bia tháp sùng thiện riêng linh trên núi đọi tỉnh Hà Nam có đoạn ghi tả chùa riêng hữu một cột ở Thăng Long như sau.
Đào ao thơm linh chiểu, giữa ao trổ lên một cột đá, trên cột đá hoa sen nghìn cánh xòe ra.
Trền hòa dựng một ngôi đền đỏ sẫm, trong đền đặt một pho tượng quan âm sắc vàng.
Vòng quanh ao có dãy hành lang trang trí bằng những hình vẽ bao bọc.
Ngoài hành lang lại đào ao bích trì, mỗi phía đều bắt cầu cong để đi lại.
Sân trước mặt hai bên tả hậu xây tháp báu lưu ly.
Hai tháp báu này xây bằng gạch nông đất trắng, một cạnh gạch có trạm rồng, kiểu rồng thời lý.
Ngoài cũng phổ men trắng mà khoảng năm 1954 đã được tìm thấy trong khuôn biên chùa riêng hữu.
Thiền sư Huyền Quang, đệ tam tổ phái Trúc Lâm thời Trần có làm thơ vịnh cảnh riêng hữu tự dưới trăng thu,
có đề cập đến những ngọn tháp này.
Phường trượng đêm thu, vẳng tím chuông, lá bàng đỏ sẫm ánh trăng xuông,
gương hồ in ngược chim đầu nóc, một đôi tháp ngọc nhọn đầu vươn.
Vũ Lý Nhân Tông còn cho xây thêm một gác chuông bằng đá cao mấy trượng
và đúc một quả chuông thật lớn định để treo lên.
Nhưng chuông rẻ, không kêu nên để bỏ ở thửa ruộng bên chùa.
Ruộng trũng nhiều rùa nên được gọi là chuông quy điền.
Chuông này sau vương thông nhà Minh bị bình bình vương vây hãm,
phá đi để lấy đồng đúc khí dối.
Vào những ngày sóc, tức mồng một, ngày vọng, tức ngày rằm,
mỗi tháng nhà vua thường đến lễ chùa và hàng năm,
đến ngày Phật đản, mồng tám tháng tư âm lịch, vua đều đến dự lễ tám Phật.
Đó là thời cực thịnh của chùa Diên Hữu.
Từ đó đến nay, chùa cùng với đất nước trải qua bao cuộc thịnh suy
Ý niệm xây dựng chùa Một Cột có lẽ đã phát xuất từ thời Đinh Lê,
bằng chứng là ở Hoa Lư cũng có di tích của chùa Một Cột.
Những hình ảnh xưa nhất của Liên Hoa Đài được ghi lại là những tấm hình chụp về cuối thế kỷ 19,
cho ta thấy chùa Một Cột bấy giờ trông tương tự như bây giờ,
nhưng tình trạng bắt đầu hư nát và quan cảnh xung quanh khá hoang tàn.
Đến năm 1923, chùa Một Cột được trường Viễn Đông Bác Cổ xây cất lại
và xây bao lan bọc quanh 4 phía hồ.
Những cuộc trùng thu này vì thiếu kinh nghiệm nên kết quả không được mỹ mãn lắm.
Kích thước thì nhỏ hẹp đi, mái cũng thấp hơn,
quan cảnh có gọn gàng, phong quang hơn, nhưng đường nét cũng khô khan hơn.
Bức tượng Phật thuốc nổ không thể phá hủy.
Tuy nhiên từ đây trở đi, nhờ phương tiện truyền thông, sách vở, báo chí, hình ảnh,
chùa Một Cột được phổ biến, thậm chí nhà bưu điện Đông Dương
cũng đã mấy lần phát hành tem chùa,
nên càng ngày kiến trúc này càng được biết đến,
không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới.
Đến cuối năm 1954, khi thi hành Hiệp định Geneva,
quân Pháp sửa xoá rút lôi khỏi Hà Nội và miền Bắc,
thì có kẻ lạ mặt đặt thuốc nổ phá hủy cho một cột ngày 11 tháng 9 năm 1954,
dằm tháng 8 âm lịch.
Liên hoa đài bị phá hủy từ mặt sàn trở lên vì chất nổ được giấu ở dưới bát nhang.
Tuy nhiên pho tượng quan âm nơi đây vẫn ngồi y nguyên ở gần ngay đấy,
chỉ bị rời mấy cánh tay gỗ chắt.
Sau khi tiếp quản Hà Nội được mấy tháng thì chính quyền tiếp quản quyết định phục hồi lại chùa
và ủy nhiễm cho chuyên viên Sở Bảo tồn Cổ tích Nguyễn Ban Lăng
nghiên cứu họa đồ và điều khiển công trường.
Họa đồ đã được nghiên cứu căn cứ theo một ảnh chụp cũ khoảng cuối thế kỷ 19
của trường Viễn Đông Bác Cổ vì là ảnh chụp lập diện,
nên những kích thước cũ chiều rộng chiều cao, độ dốc mái,
kể cả chi tiết tàu đao, lan can được phục nguyên một cách chính xác.
Cột đá đường kính 1m20 và bộ con sơn sóc nách bên dưới vẫn được giữ nguyên,
còn trên bình đồ vuông được phục nguyên mỗi mặt rộng 4m20,
chiều cao từ sàn đến giềm mái là 2m20.
Chi tiết trang trí trên nóc mái là đôi dòng ngoành cổ lại trầu mặt nguyệt,
là đặc điểm trang trí từ thời cuối lê sang nguyễn được đắp lại như cũ.
Bốn góc mái đao được làm cong hớt lên hơn trước một ít.
Những hình đắp trang trí trên bốn góc đào trong hình chụp không rõ
vì đã hư mòn thì được đắp lại theo hình đầu dòng lá lật như kiểu cuối thời lê,
còn thứ khá phổ thông ở các kiểu kiến trúc cổ đại miền Bắc.
Vách gỗ bao quanh cung thờ được làm theo kỹ thuật cổ truyền là vách nong đố gỗ,
lan can được làm con tiện, và cái vỉ rùi trang trí ở hai đầu hồi
thì được chạm theo kiểu chép nhà thủy tạ, chùa Tham Sơn, huyện Tiền Dù, tỉnh Bắc Ninh.
Bên trong, phía sau bên trên bàn thờ đức quan thế âm
được trang trí bằng một giải ván thượng diệt chạm lưỡng long trầu nguyệt
dập theo một kiểu chạm gỗ ở đình làng đình bảng Bắc Ninh.
Cũng ở đây, bên trên giáp mái treo tấm bảng chữ Hán liên hoa đài.
Bi kịch của Chùa Một Cột
Cưm mưa là trong nhà cũng như ngoài sân.
Được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tổ,
trải qua gần một ngàn năm, nhiều hạng mục trong Chùa Diên Hữu Một Cột đã xuống cấp nghiêm trọng.
Dẫn chúng tôi đi một vòng quanh chùa, Đại Đức thích tâm kiên,
chỉ không xuể những hạng mục trong Tam Bảo, Nhà Mẫu, Liên Hoa Đài đang mắc bệnh
và cần được sửa chữa trong thời gian sớm nhất.
Nguyên nhân chính khiến sự xuống cấp của ngôi chùa này được Đại Đức thích tâm kiên cho biết
là do mái ngói của chùa đã bị hỏng nhiều phần.
Bất kể mưa to, mưa nhỏ, Tam Bảo, Nhà Mẫu, Liên Hoa Đài đều bị rột tứ bể.
Vì vậy nước thấm vào làm phần kết cấu gỗ của ngôi chùa cổ tự này xuống cấp.
Nhiều lần chúng tôi phải mặc áo mưa, đội nón cho phật khỏi ướt.
Thầy Kiên Bồi Ngùi nói
Nhiều trận mưa to biến chùa Diên Hụ một cột thành biển nước mênh mông.
Chùa nằm ở vị trí lòng chảo.
Mỗi khi mưa to, khuồn viên chùa trở thành một hồ chứa nước và là nơi hứng chịu bùn rác dồn xuống.
Thầy Kiên cho biết khi chùa đã ngập, nhanh nhất cũng phải mất 4 đến 5 tiếng nước mới rút hết.
Có trận mưa khiến cho chùa phải ngâm trong nước mất nửa ngày.
Đứng bên trong chùa, nước lên mái, nhiều chỗ chúng tôi nhìn thấu cả trời xanh.
Trải qua thời gian, mái ngói cũng bị xô lệch khắp nơi.
Kết cầu gỗ của ngôi chùa do bị nước mưa thấm, mối mọt xâm lấn nên cũng bị mục rũn khá nhiều.
Do nhiều lần bị ngâm trong biển nước nên nền móng có mất cảm giác rất yếu.
Vội vữa của chùa Diên Hụ chỉ cần vỗ nhẹ là rơi lạ tả xuống đất.
Trong tâm thư gửi ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội,
chủ trì chùa Diên Hụ một cột thích tâm kiên có nhấn mạnh rằng
Sau 30 ngày, tính từ mòng 2 tháng 5,
chính quyền không có ý kiến, nhà chùa đang phải rỡ ngói và hạ giải
để đảo ngói toàn bộ chùa và nhà mẫu để tạm thời tránh rổ nát trong mùa mưa bão.
Tôi rất mong chính quyền sớm vào cuộc để ngôi chùa sớm được trụng tu thôn tạo.
Năm năm kêu cứu nhưng vô vọng
Chia sẻ với chúng tôi về sự xuống cấp của ngôi chùa
có kiến trúc độc đáo và có giá trị văn hóa, lịch sử với người dân thủ đô cũng như cả nước.
Đại đức Thích Tâm Kiên không giấu nổi,
vẻ buồn giàu vì đã hàng chục lần ông gửi thư cho cơ quan chức năng
chỉ rõ về sự xuống cấp nhiều hạng mục nhưng vô vọng.
Ngày 20 tháng 4 năm 2008
là lần đầu tiên Đại đức Thích Tâm Kiên lên tiếng về sự xuống cấp của ngôi chùa.
Nhiều hạng mục bị xuống cấp nên ngày đó tôi có tờ trình lên ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
đề nghị để kiểm tra xem xét và có kế hoạch trụng tu tôn tạo.
Tính đến nay đã hơn 5 năm,
sự việc chùa xuống cấp đã được đồng bào Phật tử khách du lịch trong và ngoài nước bức xúc.
Hiện trạng cứ mưa to là tượng Phật phải choang áo mưa
và sân chùa bị ngập ống khiến nhà chùa rất lo lắng khi mùa mưa bão sắp tới.
Đại đức Thích Tâm Kiên bày tỏ
Vì lo cho sự xuống cấp của ngôi chùa nên hơn 5 năm qua,
trước mỗi mùa mưa bão Đại đức Thích Tâm Kiên đều gửi thư lên cơ quan chức năng
đề nghị vào cuộc khắc phục những hạng mục đã bị xuống cấp
và sớm xem xét thực hiện dự án trụng tu lại.
Trong thư nhà chùa cũng chỉ mong ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các cấp chính quyền quan tâm
nhanh chóng tổ chức hội thảo lấy ý kiến các cấp, các ngành, các nhà khoa học
để nhanh chóng trụng tu tôn tạo chùa riêng hữu một cột.
Trao đổi với chúng tôi, Đại đức Thích Tâm Kiên cho biết
chùa xuống cấp như vậy nhưng cơ quan chức năng vẫn chưa có biện pháp gì rõ ràng
để ngôi chùa sớm được trụng tu tôn tạo.
Chính vì vậy nhà chùa buộc phải tiếp tục gửi tâm thư lên ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.
Tuy là di tích chung chứ không phải của riêng nhà chùa,
bản thân tôi làm đơn cũng chỉ mong chính quyền sớm vào cuộc đưa ra giải pháp để trụng tu tôn tạo chùa.
