Nghề đan thuyền nan làng Hưng Học

Nghề Truyền Thống
340 người theo dõi
264 Lượt xem video·20 thg 1, 2025
Làng Hưng Học, vườn Nam Hòa, thị xã Quảng Yên,
nổi tiếng với nghề đàn ngư cụ và nghề làm thuyền nan.
Nơi đây từng tập trung rất đông thợ tay nghề cao.
Cách đây độ chục năm, số hộ theo nghề đàn thuyền nan dễ phải lên đến 50.
Nhưng nay con số này chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.
Nghề đàn thuyền nan đang trở thành di sản,
chỉ còn được lưu giữ bởi những gia đình gắn bó sớm nhất và lâu nhất với nghề ở vùng đồng chua nước mạn này.
Và có lẽ cũng chỉ có họ còn đủ tâm huyết để trao truyền ngọn lửa nghề trước những thách thức từ thị trường.
Gia đình nghệ nhân ưu tú Nguyễn Văn Giót đến nay đã có 6 đời gắn bó với nghề làm thuyền nan.
Họ là người có công đưa nghề này phổ biến ở đất Hưng Học.
Đây cũng là gia đình có những người thợ lành nghề và giỏi việc nhất.
Với một nghệ nhân ưu tú và một bàn tay vàng của làng nghề đã được công nhận.
Họ cũng là những người đau đáu tâm huyết nhất với cái nghề mà ông cha để lại.
Những cái năm tháng mà cái nàng nghề đàn thuyền nan này mà phát triển thì nó rơi vào từ cái năm như vậy là 71, 72 đó đi cho đến năm như vậy là 2000.
Thì là những cái năm tháng đó là cái nghề nghiệp của cái nàng này.
Nếu mà như vậy là các anh các chị cứ đi qua đây là dâm gian chỗ này có tiếng gõ vào thang thuyền,
chỗ kia có tiếng, lúc bây giờ nó chưa có tiếng máy,
chỗ kia có tiếng đập nan, trẻ nan, đàn thuyền, cạp thuyền như vậy là nó cứ dâm gian.
Nghe nó cũng vui tai lắm.
Tuy nhiên một nàng quê rất là nghèo.
Nhưng mà những năm tháng đấy là từ đầu nàng đến cuối nàng là khoảng độ 5, 60 hộ gia đình.
Nghề đàn thuyền nan có từ bao giờ thì đến như ông giót.
Người nay đã ngoài thoát thập cũng không biết.
Ông chỉ nhớ tuổi thơ của ông lớn lên với cây tre tiếng gõ.
Ông là anh cả, rồi các em ông, dù là nam hay nữ, từ khi còn bé đã biết chẻ tre, đàn tre.
Nghề đã ngấm bảo máu của ông trở thành một phần trong con người ông.
Bao năm gắn bó với nghề làm thuyền.
Dù không cần ghi chép, nhưng việc làm một chiếc thuyền nan có bao nhiêu công đoạn.
Phải chọn nguyên liệu như thế nào, ông nhớ như im.
Nói về nguyên liệu làm cái thuyền nan này nó rất là đơn giản.
Đấy từ như vậy là rừng và việt nan.
Ví dụ như cây tre, cây tre đàn.
Đàn mà làm cái nan này, cây tre ở trên rừng nhà mình.
Nó chỉ dễ làm và khó làm.
Đấy còn cái tiêu chuẩn của tre này, chúng tôi phải chọn những cây tre già.
Những cây tre to, như thời trước.
Chúng tôi nó tre, có cái loại tre nó to như thế này.
Nhưng mà nó phải, nếu mà chọn, làm cái nan công này này.
Đấy, tại dọc thuyền này.
Phải chọn cái cây tre già, cây tre thẳng.
Để mà làm nan công.
Đấy còn nan ngang thì không cần chọn.
Bởi vì khi đàn vào thuyền nó có cái nóng.
Thuyền này cái đó nó ép cái kia, nó queo nó cũng thành thẳng đấy.
Khi mà chọn xong nguyên liệu thì người thọ về sẽ phải làm gì nữa ạ?
Họ đã chọn được tre về để đủ đàn.
Một cái phương tiện, một cái thuyền hoặc là đàn nhiều cái thuyền.
Thì ta sẽ như vậy tiến hành vào trẻ nan.
Trẻ nan, ví dụ ta đàn cái thuyền này dài 5 mét.
Thì ta chặt cái như vậy nan công này dài bằng 5 mét.
Đấy còn cái nan ngang của cái thuyền này thì tùy theo từng cái nghề nghiệp.
Ví dụ như làm những cái thuyền trở.
Thì ta có thể đàn như vậy 1, 2 dài thì 1 dọc.
Đấy còn cái đàn những cái thuyền làm nghề để thoát trẻ.
Đi cho nó nhẹ nhàng ấy thì tùy theo.
Thế là chúng ta đàn xong thì sẽ là cạp hay là gì?
Thế nếu mà đàn xong thì ta sẽ có tre cạp.
Đây, cái tre cạp của nó đây.
Mỗi 1 cái thuyền này cần 2 cây tre cạp.
Một cây trẻ đôi ra bên trong, mỗi bên 1 nửa.
Một cây bên ngoài thì mỗi bên 1 nửa.
Cần 2 cây.
Thế còn những cái cây tre cạp khi trẻ ra thì những cái đầu đuôi của nó lại vót những cây dược này.
Người ta ở đây gọi là dược vanh mũi nái.
Còn đây người ta gọi là dược hủ.
Cái mảnh này.
Dược hủ.
Sau khi mà cạp xong, tùy theo cái nan này nó khô.
Nó khô rồi thì ta cho vào phân hôi.
Thế mà như vậy xát xong là đẻ như vậy.
Tùy theo thời tiết, nếu mà nắng thì cứ rải ra bãi.
Hơi nó khô đi.
Thì ta cho ra xơn nhựa đấy.
Xơn nhựa ra lớp bên ngoài.
Xơn nhựa này là nước nhựa áo bên ngoài.
Xong rồi phơi khi nào.
Nó như vậy là được nắng.
Hoặc không được nắng ta phải tạo cái điều kiện ta làm.
Củ công lấy khòa chẳng hạn.
Khòa làm sao mà nhựa bên ngoài nó ngấm vào đen hết như này cháu ơi.
Đấy nó ngấm rồi.
Đen hết như này.
Xong ra được nắng tiến hành ta xơn trong.
Xơn trong, xơn ngoài.
Bao bọc như vậy kín hết nhựa này vào xong để phơi cho nó kỹ.
Nếu mà nói về tổng hợp thời gian như con thuyền này.
Chẳng hạn đến bây giờ là như vậy này.
Từ khi làm nan, nột nan đấy.
Mà dùng bằng chẻ nan xong ra mà đan đấy.
Cạp mới xong mà vào tất cả những cung đoạn này.
Xong chút nữa mang lên trên kia anh võ anh vào thang đấy.
Như đang vào thuyền.
Chiếc thuyền nan nhỏ, cơ động.
Phù hợp với việc di chuyển gần bờ ngày càng trở nên vắng bóng trong đời sống hiện đại.
Người ta ít nhìn thấy những chiếc thuyền nan hơn bởi nhiều lý do.
Đánh nưới, đánh trài.
Những năm trước đây thì tôm cá nó nhiều.
Cứ đi ra khỏi như vậy.
Bờ đê đeo một cái.
Thuyền này thả treo nưới là tôm cá đầy.
Nhưng bây giờ vẫn vắng bóng tôm cá.
Vươn khơi xa thì thuyền nan bé không vươn được.
Nam trong tổng vụng thì là cấm.
Cho nên những thuyền nan này dần già.
Vắng từ người mua đến người làm.
Chiếc thuyền nan cũng dần bị thay thế bởi những chiếc thuyền composite bền chắc hơn.
Được biết chỉ có khoảng 30% số thuyền được làm mới trong vài ba năm trở lại đây là thuyền nan.
Còn lại khách hàng đều đặt làm thuyền composite.
Loại thuyền bền hơn và chắc chắn hơn.
Thuyền lan treo truyền thống thì đang thủ công bằng lan treo tự nhiên.
Còn thuyền composite này thì bằng sợi aliang và sợi thủy tinh và nhựa composite kết hợp.
Kỹ thuật thì nó tương đối là giống nhau.
Bởi vì là thuyền lan thì đan từ đầu.
Thì là mình phải chọn treo trẻ treo đan.
Còn thuyền composite này thì là mình tạo cuôn, mình đắp cuôn.
Để mình đổ theo ý của mình.
Cơ bản là thuyền nan mình làm nó lúc nào cũng nhỏ.
Nó thoan thẻ hơn thuyền nhựa composite.
Nhựa composite này mình làm nó phải rộng ngang để mở.
Nó phải chành trên sông.
Nhắc đến những người có công treo truyền và phát triển nghề làm thuyền nan ở Hưng Học.
Cùng với nghệ nhân ưu tú Nguyễn Văn Giót.
Không thể không kể tới em trai ông là ông Nguyễn Anh Sáu.
Có thể coi ông Sáu là người có công lớn.
Sẽ hướng thành công cho nghề.
Người tìm lối ra cho nghề trong bối cảnh mới.
Đi bộ đội về cùng với công việc đồng án.
Ông Sáu tiếp tục gắn bó với nghề làm thuyền nan mà cha ông để lại.
Như một kế sinh nhai, một nghề phụ để tăng thêm thu nhập.
Nhưng bằng những kiến thức được ông cha truyền dạy.
Cùng với đôi bàn tay khéo léo và ốc thẩm mỹ.
Ông Sáu đã nảy ra ý tưởng.
Biến những chiếc thuyền nan thành sản phẩm lưu niệm đặc trưng của làng nghề.
Khách du lịch về làng nghề thăm quan mà lại không có một sản phẩm gì để bán về.
Cho khách làm quà lưu niệm.
Nên ý tưởng của tôi là biến thuyền nan to thành thuyền nan con để bán cho khách.
Thuyền nan nhỏ này, ví dụ cỡ này, toàn bộ đều bằng che hết.
Kể cả từ mái trèo cho đến thang của nó đều bằng che hết.
Ví dụ như cái cỡ to hơn đây, thang của nó bằng gỗ.
Sản phẩm thủ công tinh xảo lại gắn với đặc trưng đời sống của người dân địa phương.
Mang trong mình tinh hoa của nghề và câu chuyện của một vùng đất.
Nên không khó hiểu khi thuyền nan lưu niệm được du khách.
Đặc biệt là du khách nước ngoài ưa chuộng.
Năm 2014, sản phẩm thuyền nan của ông Sáu huynh dự được chứng nhận là sản phẩm khổ khốc của Quảng Ninh.
Thời gian cao điểm trước khi xảy ra dịch bệnh COVID-19, sản phẩm ông làm ra không đủ để bán.
Đó cũng là niềm động viên với người thọ, giúp ông tiếp tục sáng tạo.
Tuy nhiên, trên hành trình tìm kiếm chỗ đứng mới, chất thuyền nan cũng gặp nhiều sóng gió.
COVID-19 ập đến, du lịch, mà đặc biệt là du lịch quốc tế bị ảnh hưởng.
Giống như nhiều làng nghề và nhiều hoạt động kinh tế khác, sản phẩm thuyền nan lưu niệm không có người mua.
Hàng làm ra không bán hết.
Ông Sáu hiện chưa làm thêm hàng mới, mà chỉ cố gắng tiêu thụ những chiếc thuyền đã làm trước đây.
Hướng đi đã có, nhưng có lẽ để đưa nghề đàn thuyền nan dẽ theo một hướng mới, phát triển trở thành sản phẩm ô cốt chủ lực,
thu hút được lượng lớn người mua và người làm nghề, còn cần những quyết định và nỗ lực cao hơn
để định giá sản phẩm thuyền nan lưu niệm sát với giá trị lao động của người thọ
và truyền tải câu chuyện văn hóa và thời đại gắn với chiếc thuyền nan.
Nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến làng nghề đàn thuyền này
để quan tâm nhiều hơn nữa để có thể giữ tròn vẹn làng nghề.
Trong khi chờ đợi những hành động hỗ trợ mạnh mẽ hơn,
thì bây giờ niềm hy vọng về sức sống của làng nghề và của nghề đàn thuyền nan
chủ yếu vẫn được đặt trọn ở những người thọ, những người nghệ nhân ưu tú như ông Gióc.
Một vài năm mình chẳng nào nữa có ông khách đến,
ông chỉ yêu cầu, ông chỉ mua cái thuyền nan này, thuyền khác người ta không mua.
Thì mình bắt buộc phải phục vụ cho khách,
tìm tre, tìm pheo về đán cho khách
để đáp ứng với nhu cầu của những thị hiếu của những người tiêu dùng.
