Nghe Full: https://ganjing.b3355.xyz/s/O3Qyanm8jW Ebook PDF Q1: http://e.pc.cd/832y6alK Bìa Q1: http://e.pc.cd/ra2y6alK -- Ebook Q2: http://e.pc.cd/Wa2y6alK Bìa Q2: http://e.pc.cd/9NQy6alK ----- File In: http://e.pc.cd/EEuy6alK ----- Cuốn sách này sẽ liệt kê phân tích rõ Trung Cộng đã tiến hành thay thế văn hóa truyền thống một cách hệ thống như thế nào, đã tiến hành cải tạo tư tưởng một cách hệ thống ra sao, sử dụng thủ đoạn truyền bá như thế nào, cho đến biểu hiện của những người sau khi bị cải tạo tư tưởng, v.v.. ----- Tự luận Chương 1: Thay thế Văn hóa Truyền thống một cách hệ thống Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống (phần 1) Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống (phần 2) Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống (phần 3) Chương 3: Các thủ đoạn nhồi nhét (phần 1) Chương 3: Các thủ đoạn nhồi nhét (phần 2) Chương 3: Các thủ đoạn nhồi nhét (phần 3) Chương 4: Biểu hiện của người ta sau khi bị cải tạo tư tưởng (phần 1) Chương 4: Biểu hiện của người ta sau khi bị cải tạo tư tưởng (phần 2) Chương 5: Biểu hiện thường thấy của Văn hóa đảng trong tuyên truyền (phần 1) Chương 5: Biểu hiện thường thấy của văn hóa đảng trong tuyên truyền (phần 2) Chương 6: Những ngôn từ của đảng đã trở thành thói quen (phần 1) Chương 6: Những ngôn từ của đảng đã trở thành thói quen (phần 2) Chương 7: Văn hóa đảng trong cuộc sống (phần 1) Chương 7: Văn hóa đảng trong cuộc sống (phần 2) Chương 8: Thói quen tư duy kiểu Văn hóa đảng (phần 1) Chương 8: Thói quen tư duy kiểu Văn hóa đảng (phần 2) Lời kết
Ban Biên tập Cựu Bình Giải Thể Văn Hóa Đảng
Phần 1 Văn Hóa Đảng Hình Thành Như Thế Nào
Chương 1 Thay Thế Văn Hóa Truyền Thống Một Cách Hệ Thống Mục 6
Mục 1 Tuyên Truyền Thuyết Vô Thần Mục 2 Tuyên Truyền Thuyết Di Vật
Mục 3 Phủ Định Văn Hóa Truyền Thống Mục 4
Tuyên Truyền Sự Vĩ Đại Của Mark, Angel, Lenin và Mao Trạch Đông
Trên thế giới, tất cả những nền văn minh văn hóa cổ đều bắt nguồn từ các thần thoại như
Thần Shiva ở Ấn Độ biến hóa ra vạn vật, những câu chuyện ly kỳ trên núi của Thần Zeus tại Athens,
Đức Jehovah chỉ với một niềm sáng tạo ra thế giới, thần mặt trời của Ai Cập và các vị hồ pháp vạn linh,
cho đến những thần tích vĩ đại của bàn cổ và nữ hoa tại Trung Quốc, đều khởi nguồn cho văn minh cổ xưa.
Hàng nghìn năm sau, nhân loại trả dài sinh sống đều dưới sự bảo hộ và khải thị của thần hoặc thiên chúa.
Người Trung Quốc tự xưng quê nhà mình là Thần Châu là quốc gia của thần.
Người Trung Quốc gọi hoàng đế là thiên tử tức là con của trời,
nơi hoàng đế thờ cúng trời đất gọi là thiên đàng, có diện tích lớn gấp 4 lần so với tự cấm thành,
quan thiên chi đạo, chấp thiên chi hành, tận hỷ, tức xem xét đạo trời, làm theo sự vận hành của trời,
như vậy là biết hết rồi. Đây là lời mở đầu trong Hoàng đế âm Phù Kinh,
hoạt giả nói rằng dân tộc Trung Hoa có câu đầu tiên trong văn tử ghi chếp là
Thể xác thiên đạo, thuận thiên nhi hành, sở hữu đạo lý tận tại kỳ trung,
tức thể nghiệm quan sát đạo trời, thuận theo đó mà hành, có bao nhiêu đạo lý đều ở trong đó.
Người Trung Quốc không những xung bái thiên mà còn xung bái những vị cổ xưa nhất ở trên trời,
gọi là lão thiên gia, đây là sự kính ngưỡng đối với vũ trụ của người Trung Quốc.
Trong ký ức của người Trung Quốc từ bàn cổ khai thiên địa,
nữ hoa tạo ra con người đến thần nông nếm thử trăm loài thảo dược,
thần phù trợ nhân loại đi qua bao năm tháng gian khổ, từ thời mông mùi khai thiên lập địa,
văn hóa bán thần từ xa xưa của Trung Hoa, lưu lại những văn minh như là chăm cứu, chưu dịch, bác quái v.v.
Tuy rằng đã kinh qua mấy nghìn năm, nhân loại hôm nay vẫn chỉ có thể tháng phục mà không có cách nào lý giải hoàn toàn.
Từ hiên viên hoàng đế hướng về thần tiên quảng thành tử học đạo,
khổng tử hướng tới lão tử học đạo, rồi đến Phật Pháp truyền về phương Đông,
nhò thích đạo đặt định ra nội hàm văn hóa trọng đức hành thiện cho người Trung Quốc,
lưu lại văn hóa thần truyền chính thống.
Hiện nhiên, tại Trung Quốc trong văn hóa truyền thống ngoài quy tắc tại nhân gian ra,
còn có bộ phận thông với thiên, trong tâm lý con người ưu minh ngư mùi,
vẫn có khao khát siêu thoát khỏi thế tục trần gian,
người Trung Quốc xem nội hàm chân chính của sự khiêm nhường là kính úy đối với thần.
Cho dù quốc gia phát sinh bất kể thiên tai nhân họa gì,
thì đều có quan hệ với bản thân thiên tử, hoàng đế cần phải tự mình phản tĩnh,
tiến hành đại xá hoặc là tắm gội trai giới mà lệ kính thiên thần.
Tuy nhiên, kể từ thế kỷ trước, dung nghĩa Cộng sản gây họa loạn nhân gian.
Sau khi Trung Cộng đoạt lấy chính quyền vì để duy trì sự thống trì của Cộng sản,
Trung Cộng triển khai vận động bạo lực toàn diện nhằm phá hủy văn hóa thần truyền của Trung Quốc,
sử dụng các hệ thống nhằm thay thế văn hóa truyền thống,
kiến lập thế hệ văn hóa đảng phi tự nhiên.
Trong hệ thống thay thế hiện nay, Trung Cộng dùng thuyết vô thần luận các đức tín ngưỡng
lại đưa thuyết di vật của Đảng Cộng sản làm phương pháp cơ bản nhận thức thế giới và lịch sử,
mà cưỡng chế nhô nhét vào người dân, lấy bạo lực và đấu tranh làm lý luận chỉ đạo,
đồng thời dựa theo giá trị quan của Đảng Cộng sản mà đánh giá phân biệt tinh hoa và cạn bả,
tiến bộ và lạc hậu, phủ nhận một cách toàn diện văn hóa truyền thống chính thống của Trung Quốc,
từ đó dân tộc mất đi gốc rễ văn hóa.
Sau đó trong tình huống người dân Trung Quốc đối diện với vô thần, duy vật, không có gốc rễ văn hóa,
mà tuyên truyền sự vĩ đại của Mark, Engel, Lenin và Mao Trạch Đông,
tiến hành cái thứ nhân tạo thần của Đảng Cộng sản.
Đến lúc này, Trung Cộng áp dụng vào thực tiễn một bộ văn hóa biến dị,
nhằm cải tạo tư tưởng hàng trăm triệu người Trung Quốc,
đồng thời xác lập nên hệ thống lý luận văn hóa đảng, phản thiên, phản địa, phản nhân tính.
Mục 1 Tuyên truyền Thuyết Vô Thần
Lịch sử nhân loại mấy nghìn năm đã hình thành nên rất nhiều thế hệ văn hóa đa dạng,
cùng tồn tại với thế hệ chế độ xã hội.
Trong tất cả mọi thế hệ thì giá trị quan sâu cùng của nhân loại đều mang hình thức thần linh hoặc thiên ý,
tồn tại siêu xuất khỏi quyền lực thi hành chính trị nơi thế gian con người.
Bên trên vua và hoàng đế, phải có thần hoặc trời làm chứng, giám hộ và dẫn dắt,
là vì quân quyền thần thủ, tức quyền của vua là do trời bang.
Trong một thế hệ như vậy, thần linh và thiên ý là lực lượng nhận định và phán quyết
sâu cùng đối với những giá trị quan nơi thế gian con người,
có tác dụng phê bình và phán quyết với quyền lực cao nhất tại thế gian,
phần nào hạn chế bớt khuyên hướng bành trướng vô hạn độ của người nắm quyền lực cao nhất ở thế tục.
Đồng thời trong cuộc sống thế tục bình thường, thần linh và trời
cũng đóng vai trò hết sức quan trọng như nhau trong việc quy chuẩn hành vi của con người,
hạn chế sự bành trướng dục vọng cá nhân của con người,
cũng tồn tại với hình thức siêu xuất khỏi lợi ích thế gian con người.
Trong lịch sử văn hóa bao gồm nhân tố kính trời, thần quyền đều thể hiện khắp các nơi trên thế giới,
dù trong chế độ dân chủ của xã hội phương Tây hiện đại,
cũng có thể thấy được hình dáng của thần trong văn hóa cơ đốc giáo.
Nhưng Đảng Cộng sản lại cho rằng,
thuyết hữu thần truyền thống đã thách thức sự nắm quyền hợp pháp của nó.
Thể hệ giáo dục của đa số các quốc gia đều giữ thái độ trung lập với khái niệm thần,
tức là không thừa nhận cũng không phủ định sự tồn tại của thần.
Trên thực tế, khoa học hoàn toàn không phủ nhận sự tồn tại của thần,
cũng không chứng thực thuyết vô thần.
Thuyết tiến hóa cái mà Đảng Cộng sản tuyên truyền là cơ sở của khoa học tới nay
cũng chỉ là một loại giả thuyết chưa được chứng thực.
Nếu không, những người theo thuyết tiến hóa vì sao vẫn đang dốc sức đi tìm chứng cứ.
Đề cao một loại học thuyết như thuyết vô thần,
thứ hoàn toàn phủ định bất kỳ sự tồn tại siêu nhiên như vậy,
lên thành cao độ của thể hệ tư tưởng quốc gia,
điều này chỉ có thể xảy ra tại những quốc gia nơi mà Đảng Cộng sản tìm kiếm sự cầm quyền hợp pháp của nó.
Cho nên Đảng Cộng sản không có sáng thế chủ toàn trí toàn năng,
mà chỉ có những sinh mệnh do các đại phân tử ngẫu nhiên va chạm.
Trải qua mấy tỷ năm mà tiến hóa thành người,
con người là căn cứ theo luật rừng xanh, quần ngư tranh thực.
Trải qua đấu tranh giai cấp mà từ xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa,
tiến hóa tới xã hội, xã hội chủ nghĩa.
Cách nói vô vàng chỗ sơ hở này,
dù đã trả lời vấn đề vì sao Đảng Cộng sản phải cầm quyền,
nhưng vẫn không thể ăn nhập với nhận thức về văn hóa truyền thống đối với xã hội, lịch sử và chính quyền.
Chính giáo truyền thống đều dạy con người tu tâm hướng thiền, sống hài hòa với tự nhiên.
Còn Đảng Cộng sản lại đấu với trời, đấu với đất, đấu với con người.
Những người tín ngưỡng chính giáo có truy cầu về hạnh phúc vĩnh hằng nơi thế giới thiên quốc,
không xem trọng vinh hoa và hưởng thụ tại thế gian, thậm chí họ còn có thể nhìn thấu sinh tử.
Còn Đảng Cộng sản lại dựa vào đàn áp và giết chốc,
nhằm khủng bố dân chúng, dùng ham muốn vật chất để mua chuộc dân chúng.
Những tiêu chuẩn thiền ác mà chính giáo gây dần cho con người
càng phản ảnh rõ những hành vi đối địch với trời của Đảng Cộng sản.
Do vậy, Đảng Cộng sản coi sự tồn tại của tín ngưỡng là uy hiếp lớn nhất cho sự thống trị của nó.
Plakhanov, giáo viên của Lenin, nhà lý luận chủ nghĩa Mark của nước Nga,
vào tháng 4 năm 1918, trong khi mắc bệnh nguy kịch đã để lại khẩu truyền trong cuốn Di chúc Chính trị,
được công bố vào tháng 11 năm 1999, sau khi liên bang Soviet sụp đổ,
từng chỉ ra một cách xác thực rằng Lenin xua một nửa người dân Nga bước vào tương lai chủ nghĩa xã hội hạnh phúc
và có thể giết sạch một nửa người dân Nga còn lại.
Nhằm đạt được mục tiêu này, chuyện gì y cũng dám làm, nếu cần, thậm chí có thể liên minh với ma quỷ.
Tại đây, nguyên tắc và giá trị về quyền lực và lợi ích siêu xuất khỏi thế tục đều bị tiêu biến,
chỉ còn xót lại là quyền lực và lợi ích trầm trụi, để đạt được mục tiêu có thể bất chấp mọi thủ đoàn.
Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Trung Quốc từng triển khai cái gọi là thảo luận chân lý,
một trong những điểm quan trọng mà nó tranh luận chính là chân lý, chủ nghĩa nhân đạo, sự tốt đẹp, lương thiện v.v.
Có phải là thuộc tính giai cấp hay không?
Trong mắt của đảng Cộng sản, phải phù hợp với lợi ích của đảng Cộng sản mới là đạo đức đáng được cố vụ và phát huy,
nếu không thì đều thuộc về những trường hợp nên bị nó đánh đổ.
Chứa ngại lớn nhất trong việc tuyên truyền thuyết vô thần chính là các loại tôn giáo tín ngưỡng.
Do đó, sau khi Trung Cộng cướp đoạt chính quyền liên dùng danh nghĩa đàn áp bề phái bí mật tạng cách mạng
để dơ lên con giáo đồ tể nhằm vào Phật giáo, Đạo giáo, Cơ đốc giáo, Thiên Chúa giáo
và cử đặt vụ xâm nhập vào trong nội bộ tôn giáo mà thành lập, hiệp hội,
một mặt cả gan bóp méo kinh điển tôn giáo nhằm mê hoạt tín độ,
mặt khác tuyên bố trung thành với sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc,
đặt Trung Cộng vào vị trí cao hơn cả thần trong tôn giáo tín ngưỡng.
Đời người có ba câu hỏi lớn, ta là ai, từ đâu tới, sẽ đi về đâu?
Những giải thích của tín ngưỡng truyền thống về những điều đó lòng lược là
Thuyết thần sáng thế, kiếp trước, kiếp này và thiên quốc địa ngục.
Thay thế cho Thuyết thần sáng thế là Thuyết vô thần,
tuyên truyền từ vượng thành người, lao động sáng tạo nên con người.
Đời trước đời nay trở thành hai tầng trời của xã hội cũ và mới,
thiên quốc địa ngục trở thành chủ nghĩa Cộng sản viễn tưởng hư không.
Trong tín ngưỡng truyền thống, trên đầu ba thứ có thần linh,
họ giám sát bảo vệ con người bằng năng lực siêu thường.
Sau khi Trung Cộng phá hủy tín ngưỡng của con người,
đã không ngừng thổi phòng bản thân mình là vĩ đại quan vinh chính xác,
dẫn dắt chúng ta đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác.
Trong tôn giáo có sáng thế chủ, Trung Cộng lại nói rằng sư này không hề có sáng thế chủ,
bản thân nó mới là đại cứu tinh của nhân dân.
Tín ngưỡng chính thống có đặc tính ổn định,
Giê-xu nói, dù cho trời đất phải bỏ đi, lời của ta không thể bỏ đi.
Người Trung Quốc thì giảng, thiên bất biến, đạo diệt bất biến.
Tức trời không đổi, đạo cũng không đổi.
Do đó những người có tín ngưỡng chính giáo sẽ phán đoán đúng sai theo kinh điển của nó,
nên tiêu chuẩn thị phi này là ổn định.
Còn Đảng Cộng sản còn căn cứ theo yêu cầu chính trị của nó,
không ngừng cải biến hoặc loạt độ những tiêu chuẩn thị phi mà nó đang tuyên truyền.
Một điểm nồng cốt nhất trong giá trị quan của Đảng Cộng sản là quyền lực và lợi ích.
Nếu không chịu sự khống chế quyền lực của Đảng Cộng sản,
hoặc không phù hợp với nó, thì dù là lợi ích tạm thời,
cũng đều bị nhổ tận góc bởi cái mũ phản động.
Như Stalin diệt trừ Trotsky, một lãnh tộc cách mạng Cộng sản Nga,
Mao Trạch Đông cũng diệt trừ Lưu Thiếu Kỳ, lãnh tộc của Đảng Cộng sản,
hoàn toàn không có vấn đề giá trị quan, mà là vấn đề phân chia quyền lực.
Trong thời kỳ đại cách mạng văn hóa tại Trung Quốc,
một lượng lớn những tổ chức lý luận của nhóm chủ nghĩa mát,
nhóm chủ nghĩa Cộng sản, bị tuyên truyền là tổ chức phản động.
Sau này, Dương Tiểu Khải trở thành nhà kinh tế nổi tiếng chính là vì tham gia vào nhóm lý luận này,
đã bị tuyên án tù 10 năm.
Năm 2001, tỉnh ủy tỉnh Giang Tây của Trung Cộng đã tuyên bố một tập văn kiện của Trung ương Trung Cộng
về việc giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân, là tài liệu phản động, hạ lệnh tịch thu và tiêu hủy toàn bộ.
Nguyên nhân vô cùng đơn giản bởi vì những văn kiện này không có lời cho việc
chính quyền địa phương tỉnh Giang Tây chấp hành chính sách hà hiếp nông dân.
Từ việc tiêu diệt nhà tư bản tới cho phép nhà tư bản gia nhập đảng,
từ nhất đại nhị công, một là quy mô lớn, hai là mức độ công hữu hóa cao,
tới bao sản đáo hồ, giao sản lượng tới tân hồ,
từ tiêu diệt chế độ tư hữu tới dốc sức phát triển kinh tế tư nhân,
từ đại minh đại phóng, trăm hoa đua nở, tới bất tranh luận, không tranh luận,
từ vấn đề then chốt là giáo dục nông dân,
tới tiếp thụ giáo dục lại của nông dân, từ Đặng Tiểu Bình quyết không lật lại vụ án,
tới khi Mao vừa chết đã lật lại vụ án.
Người bên cạnh chủ tịch Mao bị vệ sĩ trưởng của Mao bắt giữ thành tù nhân,
cắt đứt cây đuôi chủ nghĩa tư bản trở thành phát gia chí phú, phát triển gia nghiệp trở nên giàu có.
Mỗi lần thay đổi đều là chính sách cũ đã đi vào ngọ cục,
nếu còn tiếp tục sẽ đe dọa tới an toàn của bản thân trung cộng.
Điều này cũng giống như Orwell, một tác giả nổi tiếng của Anh từng nói,
đặc điểm của những nước theo chủ nghĩa chuyên chế là
dù nó khống chế tư tưởng nhưng nó lại hoàn toàn không cố định tư tưởng,
nó xác lập giáo điều không được phép nghi ngờ nhưng lại sửa đổi điều đó mỗi ngày.
Nó cần giáo điều bởi vì nó cần thần dân của nó phục tùng tuyệt đối,
nhưng nó không thể tránh khỏi thay đổi bởi vì đây là sự cần thiết cho quyền lực chính trị.
Trong thế hệ của đảng Cộng sản, mối liên hệ giữa nhân tính và thần tính bị cắt đứt một cách triệt để,
tài trò phê phán và phán quyết vượt trên quyền lực nơi thế gian con người bị bác bỏ,
những nhận định và phán quyết về nguyên tắc và đạo đức trở thành một bộ phòng của bản thân quyền lực thế tục.
Những người theo chủ nghĩa Cộng sản cho rằng,
nếu không như vậy thì không thể thực sự thiết lập chính quyền đảng Cộng sản một cách kiên cố.
Tuy nhiên, loài giá trị quan này có thể chi phối hành vi của nhân loại.
Tất cả những bộ phòng xấu ác do nhược điểm trong bản chất nhân tính biểu hiện ra,
không thể tránh khỏi việc dần dần bị phát huy và phóng đại một cách đầy đủ,
cuối cùng diễn biến thành thế hệ văn hóa đảng có một, không hai.
Mục 2. Tuyên truyền Thuyết Duy Vật
Thuyết Vô Thần là cơ sở của văn hóa đảng,
phá hủy chính tính của con người đối với Thần và để cho Trung Cộng có thể muốn làm gì thì làm nấy.
Tuy nhiên, Trung Cộng vẫn còn muốn đi xa hơn nữa.
Phép biện chứng của Thuyết Duy Vật và lịch sử Thuyết Duy Vật tạo dựng thế giới quan
và phương pháp luận của đảng Cộng sản, chính là một nền tảng khác của văn hóa đảng.
Người dân Trung Quốc do chịu tải não từ Thuyết Duy Vật,
cho nên cách nhìn nhận thế giới và lịch sử đã hoàn toàn khác với cách nhìn nhận trong quá khứ.
Chủ nghĩa Duy Vật của Mark và Engel chẳng qua là một trường phái chiến học rất có tính tranh luận.
Nhà xuất bản Edward Bernstein từng đưa bản thảo phép biện chứng tự nhiên của Engel cho Einstein.
Đề nghị ông phát biểu ý kiến xem xem bản thảo viết tay này có nên xuất bản hay không.
Einstein sau khi xem qua phép biện chứng tự nhiên của Engel thì không tán động và nói rằng
nếu như bản thảo này không phải là của một nhân vật lịch sử,
mà là một tác giả muốn thu hút sự chú ý của người dân.
Nếu vậy, thì tôi kiến nghĩ rằng không nên đưa ra xuất bản,
bởi vì bất luận nhìn nhận từ quan điểm của vật lý học đương thời
hay là từ phương diện lịch sử vật lý học mà nói,
nội dung của bản thảo này đều không có sự hấp dẫn đặc biệt nào.
Tuy nhiên, Đảng Công sản lại biến chủ nghĩa Mark Lenin thành chân lý tiêu chuẩn cho khắp mọi nơi,
trở thành nội dung cải cách trong sách giáo khoa,
năm này qua năm khác, tháng này qua tháng khác, ngày này qua ngày khác, đều phải nói đến.
Thuyết di vật trong biện chứng duy vật của Mark và thuyết di vật truyền thống cũng khác nhau.
Ông ta cho rằng thuyết di vật truyền thống chẳng qua chỉ là một loại triết học duy tâm,
còn thuyết di vật của Mark lại dùng để cải tạo thế giới.
Triết học nên ngừng bay binh bố trận trinh giấy về hiểu biết thế giới,
mà triết học cần tham gia vào đấu tranh giai cấp.
Đến nay, thuyết di vật này đã không đơn giản là một loại triết học,
nó không những dự đoán về cái gọi là tiến trình lịch sự từ xã hội phong kiến đến xã hội tư bản chủ nghĩa,
cho đến lịch sự chủ nghĩa Cộng sản,
mà lại nhìn nhận rằng để đạt đến chủ nghĩa Cộng sản thì phải dự trên cách mạng bạo lực.
Lý luận của chủ nghĩa Cộng sản khi vừa xuất hiện với đài trang sắc thái lý tưởng chủ nghĩa,
muốn kiến lập lý tưởng thiên đường tại nhân gian,
đã mong muốn thu hút nhiều người nhiệt huyết tham gia cùng họ.
Kết quả là truyền bá hòa đỏ máu đến mấy chục quốc gia,
hàng tỷ người bị nô dịch, hàng trăm triệu người bị chết oan uổng.
Nếu chỉ có cách dùng bạo lực để duy trì chính quyền sẽ không dài lâu,
cho nên đảng Cộng sản trong khi làm hết các việc xấu,
đồng thời còn ra sức nói đủ lời tốt đẹp,
cụ thể là dùng những lời dối trá để đưa ra giải thích hợp lý cho việc sát hại đẫm máu.
Lời dối trá này thông qua lý luận chủ nghĩa Cộng sản được bao bọc tinh vi,
từ đó khiến nó hiển thị ra diện màu tốt đẹp và hoàn hảo.
Nó không chỉ biện hộ cho việc giết người,
mà còn đề xuất ra một bộ lý luận chỉ đạo và khống chế ở tất cả các phương diện như
chính trị, kinh tế, quân sự, pháp luật, khoa học, giáo dục, quản lý xã hội, y tế, vệ sinh,
thậm chí cả nhà cử, dưỡng lão và sinh hoạt, gia đình, v.v.
Đối với lịch sử, cũng đề xuất ra một bộ lý luận riêng của nó.
Ở một phương diện khác, Trung Cộng muốn tiến hành khống chế toàn diện
Chủ nghĩa duy vật của Marx vừa hay lại cung cấp lý luận chỉ đạo hành động cụ thể cho
bạo lực cách mạng của Đảng Cộng sản và triết học đấu tranh v.v.
Biểu hiện bang sơ nhất của chủ nghĩa duy vật của văn hóa Đảng
là chủ nghĩa tuân sùng bạo lực, do đó chúng ta thấy được
các Marx chỉ có thể dùng lực lượng vật chất phá hủy lực lượng vật chất,
ăn ghen, súng ống, đạn pháo là những thứ có uy quyền nhất,
Lenin, bạo lực có hiệu quả gấp 100 lần so với biện luận,
quốc gia là công cụ của áp bức giai cấp, Mao Trạch Đông,
quyền lực chính trị lớn lên từ nồng súng,
Lam Mưu, chính quyền chính là quyền trấn áp,
có chính quyền rồi, hàng triệu phú ông, hàng tỷ phú ông,
trong một đêm có thể đánh ngã.
Như hiện nay, chủ nghĩa duy vật của văn hóa Đảng tiến một bước phát sinh ra
cuối cùng dẫn đến chủ nghĩa duy lợi,
nó dẫn dắt con người thực sự đi đến chỗ đạo đức suy bại, tha hóa.
Nhiều người Trung Quốc đương đại, gồm nhiều người thuộc phần tử tri thức,
phủ phục dưới sự đàn áp bạo lực và chính sách thu mua kim tiền của Trung Cộng,
trở thành những người triệt đệ theo chủ nghĩa duy lợi.
Mê tính bạo lực và kim tiền của Trung Cộng
không lý giải được sức mạnh của tính ngưỡng,
nó đàn áp tính tâm,
cũng lại từ chính cái gọi là chủ nghĩa duy vật của nó.
Chủ nghĩa duy vật phủ định tác dụng của đạo đức,
cho rằng không có đạo đức phổ quát siêu việt đối với nhân loại.
Cái gọi là đạo đức đều là thuộc về từ một giai cấp nào đó.
Mà tại Trung Quốc, những người dẫn dãi và đạt định nghĩa về đạo đức,
tắc yếu đều là đảng Cộng sản.
Trung Cộng trong lịch sự đấu tranh chính trị tiến hành làm mưa làm gió,
lọt đổ đạo đức phổ quát một cách triệt đệ.
Đạo đức bao tiền một cân.
Câu nói này chính là điển hình cho tư duy logic
của các nhà chủ nghĩa duy vật,
chịu nhận giáo dục của văn hóa đảng mà sinh ra.
Chủ nghĩa duy vật tạo nên sự thở lãnh đạm đối với sinh mệnh,
bởi vì không thừa nhận yếu tố tinh thần của con người,
chỉ thừa nhận yếu tố nhục thể,
ăn ghen cho rằng,
sinh mệnh chẳng qua là hình thức tồn tại của protein,
một cá nhân chết đi,
chẳng qua chỉ là một đám protein thay đổi hình thức tồn tại mà thôi,
không có gì to tác cả.
Đây là cơ sở lý luận trọng yếu của đảng Cộng sản để giết người.
Chủ nghĩa duy vật trực tiếp phủ định tác dụng của lương tri,
con người tin thần,
sau khi làm việc ác đều cảm thấy lương tâm cắn rứt,
lo lắng thần minh giám sát,
nhân quả báo ứng.
Mà thuyết vô thần lại hành ác không có bất kể kiên kỳ gì.
Chính là giống như Mao Trạch Đông nói,
người theo thuyết duy vật triệt đệ không có gì phải sợ hãi.
Nếu không có thần,
chỉ có bạo lực thế gian mới có thể trừng phạt con người,
đặc biệt là khi một cá nhân hoặc bản thân tổ chức
chính là những kẻ ác nắm giữ bạo lực nhân gian.
Như vậy thì có việc ác nào mà không dám làm.
Mà càng quan trọng là nhìn nhận về giá trị đạo đức thiền ác,
từ sự tồn tại siêu việt khỏi thế giới trần tục nhân loại của thần và thiên ý,
ở đây bị bác bỏ,
mà hoàn toàn trở thành một bộ phận quyền lực thế tục,
lại tùy theo sự xa đỏ suy đổi của quyền lực thế tục,
mà mất hết thanh danh,
cuối cùng hoàn toàn chuyển thành loại giá trị quang,
mà trong đó coi xét lợi ích cá nhân là thước đo nhìn nhận thiền ác tốt xấu.
Văn hóa đảng nhìn nhận rằng vật chất quyết định ý thức,
cơ sở kinh tế quyết định kiến trúc thượng tầng,
do đó phát triển kinh tế tóc sẽ dẫn đến văn minh chính trị,
dân chủ hoàn thiện pháp chế kiện toàn,
đạo đức thăng hoa, văn hóa phùng vinh,
loại phương thức tư duy truyệt đệ của chú nghĩa duy vật trong văn hóa đảng này.
Chúng ta đã từ mắt chứng kiến trong mười mấy năm mở cử cải cách cùng với chính trị hũ bại,
chuyên chế hoàn hành, đạo đức mất dần, văn hóa điều linh,
hệ thống tư pháp chuyên chế đồng lõa cùng với hiện tượng giả màu triệt để.
Khi Trung Cộng dùng phát triển kinh tế để biện hội cho mình thường hạn cuộc
vào một tình huống tiến thoái lưỡng nang,
khi bạn chỉ trích Trung Quốc thiếu dân chủ và hệ thống pháp luật,
tín ngưỡng, ngôn luận, hội họp,
và tự do cơ bản khác bị bạo lực tàn khốc mà vô liêm sị của quốc gia tước đoạt đi,
Trung Cộng sẽ lấy phát triển kinh tế không đạt,
trình độ giáo dục thấp, tối chất của người dân thấp kém làm lý do.
Kết quả có thật sự như vậy không?
Chúng ta không nên cho rằng chỉ có tàu thuyền và súng đạn hùng mạnh thì có thể tính là cường quốc.
Chúng ta cần thấy rằng bản thân dân chủ chính là một lực lượng,
hết thải của cải, hết thải vũ khí quốc phòng,
chỉ có kết hợp với dân chủ là một mới có thể thực sự tính là lực lượng lớn mạnh.
Họ cho rằng Trung Quốc thực hiện chính trị dân chủ không phải là sự việc hôm nay,
mà là sự việc một số năm về sau này.
Họ hy vọng người dân Trung Quốc nâng cao kiến thức và giáo dục đạt đến như các nước tư bản dân chủ Âu Mỹ,
rồi mới thực hiện chính trị dân chủ v.v.
Nhưng thực ra, chính trong chế độ dân chủ càng dễ dàng giáo dục và đào tạo huấn luyện dân chúng.
Hai đoạn văn trên là trích dẫn từ Tân Hoa Nhật Báo, tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc,
chẳng qua là thời gian in ấn vào ngày 5 tháng 3 năm 1944 và ngày 25 tháng 2 năm 1939.
Vào lúc đó, những phê phán này đặc biệt nhắm vào quốc dân trong thời chiến tranh với chính phủ quốc dân đảng.
Có thể thấy Trung Cộng trước khi đoạt được chính quyền,
từ trước giờ không cho rằng trạng thái kinh tế và trình độ giáo dục của người dân là chứa ngại thực hiện dân chủ,
mà trạng thái kinh tế hiện nay và trình độ giáo dục cộng lại so với thời kỳ chiến tranh kháng nhật quốc dân đảng.
Cộng sản nội chiến thì tốt hơn nhiều, làm sao ngược lại trở thành chứa ngại được?
Điều đáng chăm biếm hơn là, Trung Cộng rêu rao duy vật, bản thân thì lại không duy vật.
Trung Cộng rao giãn vật chất quyết định ý thức,
nhưng từ trước giờ bộ máy tuyên truyền ý thức hình thái được coi là trọng yếu hơn nhiều so với bộ phận nông nghiệp.
Dưới bản quảng cáo của chủ nghĩa duy vật, Trung Cộng lại một lần nữa phạm phải sai lầm, duy ý, chí luận.
Con người gan lớn bao nhiêu, đất có sản lượng cao bấy nhiêu,
một ngày bằng với 20 năm, bước nhanh tiến nhập vào chủ nghĩa cộng sản, v.v.
Bành Đức Hoài cho rằng dự theo những khẩu hiệu thùng rỗng kêu to này,
nhiệt tình của giai cấp tiểu thư sản được xem là không phù hợp phép tắc kinh tế và quy luật khoa học,
bị Mao Trạch Đông đem ra cho là đoàn thể phản đảng,
và toàn quốc bắt đầu phản đối chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh,
cuối cùng trực tiếp dẫn đến nạn đói lớn, khiến 30 triệu người chết đói.
Đây thực sự là kết quả duy tâm của Trung Cộng.
Năm 1960, Lam Bưu đề xuất Yếu tố con người đệ nhất,
công tác chính trị đệ nhất, tư tưởng công tác đệ nhất,
tư tưởng sống đệ nhất, đó là sự chỉ đạo của công tác chính trị.
Tư tưởng quân sự của chúng ta cũng là phương hướng kiến thiết quân đội.
Đề xuất bốn cái đệ nhất sẽ thiết lập nên tư tưởng,
không nghi ngờ gì đây thuộc về chủ nghĩa duy tâm.
Mao lại khen ngợi là, ai nói người Trung Quốc không sáng tạo.
Bốn cái đệ nhất tốt, đây là sáng tạo.
Ngày 1 tháng 2 năm 1964, trong xã luận của Nhân dân Nhật Báo có viết,
toàn quốc đều cần học tập quân giải phóng, ủng hộ mạnh mẽ quân đội giải phóng lớn,
nắm giữ công tác chính trị tư tưởng, kiên trì nguyên tắc.
Bốn cái đệ nhất, đây là những nguyên nhân quân đội giải phóng Nhân dân bất gại chiến bại.
Đến nay Trung Cộng vẫn đang khoe khoan 3 đại biểu,
tùng hồ với mấy chục chữ như hình thành một hệ thống khoa học,
là góc rễ của việc thành lập đảng,
nền tảng của việc chấp chính ngọn nguồn của sức mạnh của đảng Cộng sản,
Bộ trưởng tuyên truyện hô hào,
phải hết sức nỗ lực để làm tư tưởng quan trọng 3 đại biểu tham nhập vào nhân tâm,
trở thành kiên trì nam cho hành động của quản đại quân chúng cán bộ,
trở thành chỉ dẫn cơ bản cho các công tác của chúng ta.
Vì vậy, bài trên một số bức tường tại khu vực nông thôn,
đều bổng nhiên xuất hiện biểu ngữ lớn dùng 3 đại biểu,
chỉ đạo công việc giết mộ của chúng ta.
Vô luận là chủ nghĩa duy vật và nói về dân chủ
đều bị dựng nên một lý luận khác trong hệ thống của đảng Cộng sản.
Đây chính là phương pháp biện chứng.
Công dụng của phép biện chứng là làm thế nào đem trắng nói thành đen.
Trong hệ thống thoại ngữ đầy tính bẩn cực của đảng Cộng sản,
ngữ trắng không phải là ngữ,
màu trắng xám không phải là trắng.
Vậy mà có đại đa số người lại tiếp thụ một cách vô trì vô giáp,
do đó nền kinh tế thị trường tê liệt,
bị sưng là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa,
độc tài chuyên chính thành dân chủ xã hội chủ nghĩa,
vi phạm nhân quyền trở thành lý luận nhân quyền chủ nghĩa xã hội đặc sắc của Trung Quốc.
Tám lại, chỉ cần sau khi được tô điểm thêm thắt vào,
liền đó có thể tùy ý thay đổi định nghĩa ban đầu của từ.
Sau khi cái thứ hoa ngôn biện chứng này tràn ngập các khái niệm trước đây ở Trung Quốc đại lục,
đến tận hôm nay, nó vẫn còn đang tiếp tục phát sinh.
Mục 3. Phủ định văn hóa truyền thống
Như đã nói trong phần giới thiệu,
văn hóa truyền thống Trung Quốc là nền văn hóa bán thần,
văn hóa thần truyền được phản ảnh ở rất nhiều phương diện trong văn hóa Trung Hoa,
cũng có gốc rễ thăm sâu trong sinh hoạt dân gian.
Ở một nữ khác của thế tục,
người Trung Quốc xem luân lý xã hội là một loại tím ngữ,
trung hiếu nhân nghĩa là tiêu chuẩn tối quan trọng xác định đạo đức tốt xấu, phẩm đức cao thấp.
Tại Trung Quốc, bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa
đủ để làm cho một cá nhân không cách nào có thể tiếp tục tồn tại trong xã hội.
Phần chưu tụng trong kinh thi có viết,
Tại Trung Quốc cổ đại,
thần linh thường dùng hình thức xưng danh hoặc ngay cả không có danh xưng,
ẩn tàn phía sau thiên.
Người Trung Quốc kiên định tin tưởng rằng
đạo đức và phán quyết cuối cùng của đời xóm thế tục không nghi ngờ gì nữa, ác là thần.
Sau khi Phật giáo truyền nhập vào Trung Quốc,
theo sự lưu truyền trong dân gian,
người Trung Quốc tin tưởng chắc chắn rằng có thiên đường,
địa ngục và luân hồi chuyển thế, thiện ác, hữu báo.
Quan niệm và đạo đức luân lý này được người Trung Quốc kiên trị hình thành
trên một cơ sở giá trị của cộng đồng, trở thành cơ sở của văn hóa truyền thống Trung Quốc.
Một phần quan trọng của văn hóa Trung Quốc,
do phần tử tri thức truyền thống Trung Quốc đảm nhận.
Bộ phần này lấy lịch sử làm nền tảng mà suy đoán trước và dự ngôn cho thình suy hưng vong.
Trên thế giới từ trước đến nay,
không có bất kỳ một dân tộc nào coi trọng lịch sử như người Trung Quốc.
Ngay từ thời kỳ sơ khai, dân tộc Trung Hoa đã sáng tạo ra chữ viết,
do đó ghi chép lịch sử trở thành việc quan trọng nhất trong từng triều đại.
Thương Hiệt tạo ra chữ viết, chính là sử quan của Hiên viên Hoàng đế.
Thời xuân thu loạn thế, trong bốn vị sử quan của tê quốc là bá, trọng, thúc, quý,
thì có ba vị bị chém đầu chỉ vì viết một câu chân thực.
Ngày ốc hợi tháng 5 mùa Hà thôi trữ viết vua quan, tức tê trăng công.
Thể tre dùng để viết chữ không hề dễ dàng.
Từ mà Thiên chính là sau khi chịu nhận cung hình,
dưới ánh đèn dầu mà viết vào thể tre cuốn sử ký hơn 50 vạn chữ.
Bắt đầu từ triều đại nhà Hán trở đi, truyền thống ghi chép lịch sử cách đại tu sử
khiến Trung Quốc trở thành nước duy nhất trên thế giới ghi chép đầy đủ lịch sử quốc gia
qua các triều đại với độ chuẩn xác cao.
Qua nhiều triều đại, người ghi chép về lịch sử đều là học giả có đạo đức cao,
yêu cầu phải có cả sử học, sử thức, sử tài, sử đức.
Sau khi ghi chép sử việc, thường có bình luận theo kiểu
Những bình luận này thể hiện sự đánh giá thị phi của tác giả
đối với một sự kiện đứng trên quan điểm nho da.
Do đó, sử sách Trung Quốc không những ghi chép được sự kiện chân thực của lịch sử,
mà còn bao quát được tình huống đương thời như
quan chế, chế độ quan viên, thiên văn, địa lý, thủy lời, thương nghiệp,
binh pháp, âm nhạc, khoa học, v.v.
Các khía cạnh khác của cuốn sách bách khoa toàn thư
còn bao hàm cả sự tu sửa bảo trì lịch sử của các nhà nho chính thống.
Lịch sử quan nho da này được truyền tải một cách cận trọng trong truyền thống văn hóa Trung Hoa,
cũng là đối tượng mà Trung Cộng khi mới nấm quyền tức thì yêu cầu tiêu diệt,
mà vũ khí lớn được Đảng Cộng sản dùng để tiêu diệt văn hóa Trung Quốc
chính là chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự phát triển của lịch sử
thành kết quả của đấu tranh giai cấp
và kết quả của mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất,
lại còn dự nguồn giai cấp vô sản đấu tranh với giai cấp tư sản để thành lập chính quyền,
mà Đảng Cộng sản tự cho rằng mình là đội tiên phong của giai cấp vô sản tự nhiên trở thành nhà cầm quyền.
Theo phương pháp phân tích kiểu giai cấp này,
các bọc đế vương cổ đại và các phần tử tri thức vô luận đã làm ra bao nhiêu việc tốt,
chỉ bởi họ đại biểu cho giai cấp bốc lột thì đều nên chịu sự phủ định và phê phán.
Mà những kẻ bạo động tào phản, vô luận là họ giết hại bao nhiêu người,
gian dằm bao nhiêu phụ nữ, chỉ bởi là họ là giai cấp vô sản,
hoặc những người bị áp bức bốc lột thì đều nên nhận được tán dương và cổ vũ.
Mà trong lịch sử những việc quan chức liêm chính thương dân như con,
thì Trung Cộng cho là hòa hoãn với mâu thuẫn giai cấp nhằm kéo dài sự thống trị của giai cấp địa chủ,
còn bị những tham quan không điều ác nào không làm phê phán nghiêm trọng.
Người Trung Quốc tin rằng tử sinh hữu mệnh phú quý tài thiên,
rồi còn thiền ác hữu báo cho rằng danh lợi phú quý đều là đời trước tích lại cho đời này.
Vô luận là phú quý hay là bần cùng, đạt tắc kiêm tế thiên hạ, cùng tắc độc thiện kỳ nhân,
tức giàu có thành đạt thì lo cho thiên hạ, nghèo khó thì tu dưỡng đạo đức bản thân mình cho tốt.
Do đó không hề tồn tại lịch sử quan về đấu tranh giai cấp như Đảng Cộng sản nhồi nhét.
Cho đến hôm nay, tất cả lịch sử trong xã hội đều là lịch sử đấu tranh giai cấp.
Văn hóa truyền thống Trung Quốc là một nền văn hóa bao dung,
nhò thích đạo, tam giáo cùng tồn tại.
Trong học thuyết của Nho Gia, lý học của Trình Chu và tam học của Lục Vương cùng tồn tại.
Trong đạo giáo, chính nhất giáo ở phương Nam với toàn chân giáo ở phương Bắc cùng tồn tại.
Thiền tông, tịnh độ, thiên thai, hoa nghiêm v.v. các tông phái khác nhau trong Phật giáo cùng tồn tại.
Thậm chí bên Tây Phương có cơ đốc giáo, thiên chú giáo, chính thống giáo Đông Phương,
do Thái giáo, Hồi giáo v.v. cũng đều hòa hợp với văn hóa Trung Quốc.
Đây là biểu thị sự dung nạp to lớn như biển cả có thể chứa hàng trăm con sông của người Trung Quốc,
với tinh thần, diễn hòa vi quý.
Ở Trung Quốc chưa bao giờ phát sinh chiến tranh tôn giáo và chiến tranh nội bộ trong các tôn giáo khác nhau.
Tư tưởng bao dung này tuyệt nhiên đối lập với tư tượng đấu tranh của Trung Cộng.
Trung Cộng lại không phải vì đấu tranh mà đấu tranh.
Ở đây ít nhất có hai mục đích.
Một là để con người trong khi đấu tranh với nhau mà mất đi tín nhiệm, trở nên chi năm sẻ bảy,
từ đó mà Trung Cộng thuận tiện khống chế.
Quan trọng là Trung Cộng sử dụng thuật chỉ lọc vi mã, chỉ hưu bảo ngừa của Triều Cao,
cho rằng có thể yên tâm sử dụng thuật chỉ lọc vi mã của Triều Cao.
Những người trầm mặt không nói năng gì, hiện nhiên là lương tâm vẫn chưa mất hẳn.
Triều Cao muốn gia tăng bài sích, những người phản đối đều bị Triều Cao sát hại.
Ai thừa nhận hưu là ngựa thì tên đó được Triều Cao yên tâm trọng dụng.
Ai im lặng thì rõ ràng người đó lương tâm vẫn chưa mất hẳn.
Triều Cao sẽ gia tăng bài sích, những người phản đối thì đều bị Triều Cao sát hại.
Thế nhưng, chỉ lọc vi mã của Triều Cao chỉ là quyền thuật sử dụng tại cung đình,
mà chỉ lọc vi mã của Trung Cộng lại trở thành cưỡng bức toàn dân tham dự vào văn hóa đại chúng.
Ví dụ như cải cách ruộng đất, trấn phản, cải tạo công thương nghiệp, cải cách chế độ cải biến con người,
cải biên ca kịch của giới hy kịch v.v. Rất nhiều cuộc vận động mỗi lần đều là một cuộc kiểm nghiệm thuật chỉ lọc vi mã.
Mỗi cá nhân đều phải tham gia, phải biểu đạt thái độ.
Trong thế giới nhiễn nguyên mà chọn lừa một trong hai,
không đứng về phía Trung Cộng thì ngay lập tức trở thành đối tượng bị đấu tranh.
Đạo gia chú Trọng Trân, Phật gia lấy tu thiện làm căn bản, khổng tử chủ trương nhân và tính,
mà lịch sử của Đảng Cộng sản chính là lịch sử giả ác đấu.
Pháp luật của Trung Cộng năm 1987 thông qua Điệu luật thứ 19 quy định,
tài liệu hồ sơ bình thường vượt quá 30 năm thì có thể được tiết lộ công khai, công dân phổ thông đều có thể tìm đọc.
Sông Trung Cộng cho đến hôm nay vẫn không dám mở ra những sự việc có liên quan đến kháng nhật,
nội chiến, cải cách rùng đất, nạn đói mất mùa v.v. trong tài liệu lịch sử,
không dám công bố mật ước giữa Trung Quốc và Liên Xô do Mao Trạch Đông và Chú Ân Lai ký kết với Stalin.
Chẳng qua là sợ hãi những tội ác vốn được chê đại bằng dối trá,
bị phơi bày ra ánh sáng mà thôi.
Chủ nghĩa duy vật đối với lĩnh vực tinh thần hiện nhiên là yếu ớt vô lực.
Trong đó Mỹ đẹp chính là một ví dụ, cầu vòng sau cơn mưa, cảnh hoàng hôn dưới ánh tịch dương.
Trong chủ nghĩa duy vật chỉ có thể phân tích thành các loài quang phổ của bức sóng điện tử.
Tình yêu thì bị quy kết là sự biến hóa hốc môn tự thân của nhân loại.
Tình cảm sâu đậm cao quý của nhân loại thì bị lý giải thành chút ân huệ nhỏ bé dung tục tầm thường.
Từ bản chất mà nói bất kỳ nhân tính tốt đẹp đều là chứa ngại cho sự thống trị của đảng Cộng sản,
cho đến lúc Trung Cộng phát minh ra một hàm nghĩa phù diện của từ vận nhân tính luận.
Đảng viên yêu cầu có đảng tính áp chế nhân tính.
Đối với một người bình thường mà nói, nhân tính cũng là biểu hiện của cách mạng không triệt để.
Trong tuyên truyền văn nghệ của Trung Cộng đã từng dương cao cờ hiệu lớn chủ nghĩa cắm dục,
tiết chế dục vọng, phủ định ái tình, phủ định gia đình.
Nhưng hơn 10 năm gần đây, Trung Cộng đã từ chủ nghĩa cắm dục đã quay ngoát 180 độ,
biến thành khích lệ chủ nghĩa túng dục, phỏng túng dục vọng.
Nhìn thì thấy dường như cách làm trước đó của Trung Cộng với chính sách mới là trái ngược nhau,
nhưng thực chất xuất ra từ nguyên nhân giống nhau.
Quả khứ mục đích cắm dục con người là vì để con người thành tâm cống hiến sức lực cho đảng Cộng sản,
để đảng tính cao hơn gia đình, cao hơn nhân tính.
Đến hôm nay, ý thức hình thái của đảng Cộng sản đã sụp đổ mất.
Trung Cộng khuyến khích con người chìm đắm trị lạc trong cờ bạc ma túy,
tình một đêm bao tình nhân cũng chính là nhằm khiến đạo đức con người tiêu tán,
trong khi thỏa sức hưởng lạc mà không còn nhàn rội phản đối đảng Cộng sản.
Chiêu bài tạ hữu hộ bác, tạ hữu cùng đánh này trong lịch sự thống trị của Trung Cộng ở đâu cũng thấy,
mà đằng sau nó chỉ có một mục đích nhất quãng, chính là duy trì sự thống trị của Trung Cộng.
Trung tâm của văn hóa nho da là luân lý gia đình.
Điều mà đạo đức gia đình quan tâm là tình thân là nhân ái.
Trong tuyên truyền của đảng Cộng sản thì là lấy cảm tình giai cấp mà thay thế tinh thần và tình bạn.
Ví dụ như, Lý Ngọc Hòa hát trong bài Hồng Đăng Ký,
con người nói đạo lý thế gian chỉ có tình nghĩa cốt nhục là trọng.
Theo tôi thấy tình nghĩa giai cấp nặng như Thái Sơn,
còn cho là thân bất thân, giai cấp phân, cha mẹ không là cha mẹ đều phân giai cấp.
Quan hệ với nhau trở thành đồng chí, tức là thành một thành viên trong đại gia đình cách mạng,
ngược lại tức là đối tượng kiên quyết bị trân áp.
Là đồng chí hay là kẻ địch, đơn giản là hết thải quan hệ xã hội phân thành quan hệ nhị nguyên đối lập,
vượt trên cả quan hệ thân nhân hoặc trên cả quan hệ bàn hữu.
Trong khi đấu tranh giai cấp nếu cần thì cha con không nhìn nhau,
vợ chồng xem nhau như thủ địch, kiểm điểm, phê bình đấu tố,
đánh tàn nhõn người thân yêu của mình được coi là biểu thị tính giai cấp mạnh hơn cả nhân tính,
hướng về đảng biểu thị sự trung thành phụng hiến.
Trong tuyên truyền của Trung Cộng,
cắn kẻ thù, cắn hận thù, nhai nát thật mạnh kẻ thù mà nuốt xuống,
thù hận nhập tâm phải nảy mầm, các loài ca từ tràn ngập tại Trung Quốc.
Thù hận là một động lực của chủ nghĩa Cộng sản,
cũng là một chủng tình cảm không kém quan trọng của chủ nghĩa Cộng sản.
Thù hận trở thành một động lực sở tài,
xuyên suốt bao trùm trong các loài vận động quân chúng của Trung Cộng.
Những giá trị phổ quát của nhân loại bao đời nay như đồng cảm, tình yêu thương,
thiện lương v.v. vì lẽ đó mà trở thành thủ địch tự nhiên của đảng Cộng sản,
tắt yếu phải trừ bỏ.
Mục 4. Tuyên truyền sự vĩ đại của Mark Angel Lenin và Mao Trạch Đông
Sau khi xác lập nên hai loại nền tảng lý luận lớn của văn hóa đảng là thuyết vô thần và thuyết ghi vật,
thông qua phủ định toàn diện văn hóa thần truyền,
thì hệ thống văn hóa đảng là vạn sự đủ cả chỉ thiếu gió đông,
tính ngưỡng đối với người dân lúc này như một khoảng trống trơn.
Đảng Cộng sản nhất định muốn tạo ra thần của chính mình,
mà ép nhập vào trong tư tưởng của người dân,
lắp đầy vào chỗ trống đó.
Chính là thông qua vận động tạo thần này,
hệ thống tài giáo của chủng chính giáo,
chính trị tôn giáo hợp nhất của đảng Cộng sản đã hình thành toàn bộ.
Sau khi tô vệ mình như thần rồi điểm suyết sinh động,
phản thiên, phản địa, phản nhân tính của văn hóa đảng cuối cùng đã sóng dày gây họa loạn nhân gian.
Mặc dù trong lịch sử Trung Quốc cũng xuất hiện qua các loại chính giáo hợp nhất của chính quyền như
Thế nhưng loại chính quyền này đều không có thống nhất Trung Quốc,
càng không có đem giáo nghịa của mình truyền bá ra ngoài tổ chức của họ.
Mà duy chỉ có Trung Cộng là độc chiếm chính quyền toàn quốc,
là dùng thủ đoàn bạo lực cưỡng bức con người tiếp thụ giáo nghịa của tổ chức chính giáo hợp nhất của nó.
Mà giáo trụ ở đây chính là người nóng quyền tối cao của Trung Cộng tại các thời kỳ,
sau lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch còn có hơn 2 năm của lãnh tụ Anh Minh Hoa Chủ tịch.
Những từ ngữ tào thần luôn được dùng để tô điểm cho giáo trụ của tài giáo Cộng sản.
Do đó Mác ăn ghen Lê Ninh và Mao Trạch Đông,
những đối tượng tào thần hiển nhiên của đảng Cộng sản đối tiếp nhau trở thành đạo sư cách mạng.
Họ được đổi lên vương miện nhà giải phóng hoặc cứu thế chủ,
đầy vẻ vang, được đem ra tăng bóp lên đàn thờ thần.
Thần là toàn trí, toàn năng, không phạm sai lầm.
Trung Cộng trong quá trình tạo thần cũng từ nó thành lập nên hình tượng vĩ đại, quang vinh, chính xác.
Vì vậy người lãnh đạo tối cao của Trung Cộng nếu như trong khi tại vị là không thể thừa nhận sai lầm.
Nguyên nhân bởi vì tính hợp pháp cho quyền lực của người lãnh đạo chính là ở sự nhất quán chính xác.
Một khi thừa nhận sai lầm chính là sẽ mất đi tính hợp pháp.
Mà ở một phương diễn khác, con người không phải thần, không thể không phạm phải sai lầm.
Chính vì thế mà dối trá bị đặt trở thành biện pháp không thể thiếu.
Một biện pháp khác trong việc tạo thần là hoàn toàn phủ định bất kỳ sự tồn tại siêu tự nhiên nào.
Chính là nguy tạo lịch sử.
Lấy Mao Trạch Đông làm ví dụ.
Sau thất bại của cuộc bao vây lần thứ 5 của Hồng quân, toàn quân chạy tán loạn, trốn đi tứ phương.
Lần thất bại này là cuộc đào tẩu lớn.
Trong sách giáo khoa của Đảng Cộng sản tuyên truyền thành Tiếng Bắc Kháng Nhật,
rõ ràng là trong 3 tháng sau khi biến cố ngày 18 tháng 9,
Mao Trạch Đông đã nhân lúc đất nước đang đương đầu với nguy nan mà thành lập nước Cộng hòa Soviet Trung Hoa tại Giang Tây để phân chi đất nước.
Đến khi biến cố Tây An xảy ra thì trở thành anh hùng bức tượng giới thạch Kháng Nhật.
Loại nguy tạo này đối với lịch sử đã giúp Mao Trạch Đông khoát lên mình hào quang
của danh hiệu anh hùng dân tộc.
Tại Hội nghị Lư Sơn, Banh Đức Hoài liều lĩnh khiêu chiến phe tả khuynh của Mao Trạch Đông.
Sự khiêu chiến này đối với lãnh tụ của Đảng Cộng sản một khi thành công, vận động Tàu Thần sẽ thất bại.
Như đã nói ở trên, sẽ trực tiếp khiêu chiến đến vấn đề tính hợp pháp của Trung Cộng.
Do đó, những người xung quanh Mao ngay sau đó phát động phê bình Banh Đức Hoài,
càng gia tăng việc tuyên truyền nhảy vọt một cách mất lý trí,
trực tiếp dẫn đến một nạn đói lớn nhất trong lịch sử nhân loại từ cuối thập niên 50 đến thời kỳ đầu thập niên 60.
Trung Cộng không những thông qua chữ viết mà còn dùng đến các loại hình thức Tàu Thần khác như
sân khấu, điện ảnh, ca khúc, âm nhạc, v.v.
Dùng lời ca, điệu múa mà Tàu Thần.
Dùng sáng nghe chỉ thị, tối báo cáo để Tàu Thần.
Dùng khu chiên giống trống, hoan nghênh chỉ thị tối cao để Tàu Thần.
Cho đến ngày nay, Trung Cộng vẫn tiếp tục dùng các loại tuyên truyền như
học tập không ngừng, lĩnh hội sâu sắc, quán triệt thực thi, nắm tốt phương pháp,
cách cư xử của gian trạch dân hoặc lời nói quan trọng của Hồ Cẩm Đào.
Thực ra là vận động Tàu Thần đối với các lãnh đạo đương nhiệm.
Bắt đầu từ thế kỷ 19, Vô Thần Luận tiến hành kế thừa thêm học thuyết của Tiến Hóa Luận.
Sự sai lầm của thuyết Tiến Hóa sẽ được trình bày trong chương sau.
Cái gọi là duy vật không những hoàn toàn phủ định lực lượng tinh thần,
mà còn phủ định hết thải sự tồn tại siêu việt nhân loại, tức là phủ định sự tồn tại của Thần.
Đến lúc này các tiêu chuẩn đạo đức xuất sinh từ tính ngưỡng kinh điển
toàn bộ đều mất đi chỗ dựa vào để tham chiếu, bao gồm thiện trong Phật giáo Đông Phương,
chân của Đạo Gia, khắc chế bản thân và diễn hòa vi quý của Nho Gia,
10 điều răng dày của Thánh Moses bên Tây Phương, v.v.
Từ đó tiêu chuẩn đạo đức biến thành con người có thể không ngừng cải biến hành vi chuẩn tắc của mình.
Trong xã hội của Đảng Cộng sản, giá trị quan và quyền giải thích về đạo đức rơi vào tay các nhà thống trị tối cao.
Tất cả đạo đức phổ quát không phù hợp mâu thuẫn với giá trị quan của Trung Cộng,
đều có thể dễ dàng bị Trung Cộng chụp lên chiếc mũ đạo đức giả, tàn dư phong kiến,
nhân tính luận của giai cấp tư sản v.v. Rồi sau đó Trung Cộng đứng lên cao điểm
mà giải thích về đạo đức của chính nó, mũ miệng bệ vệ mà tiến hành trấn áp phê bình.
Trung Cộng tất nhiên đã dùng vĩ đại quan vinh chính xác thì hết thải ca từ trong văn hóa đảng đều phải là loại
vĩ đại quan vinh chính xác này. Tuy nhiên mặt khác,
Trung Cộng lại là một tổ chức tà giáo tà ác cùng cực nợ máu đầm đì.
Trong tình huống đạo đức tiêu tán, loại văn hóa vĩ đại quan vinh chính xác ca tụng văn hóa tà giáo
cộng sản có thể thấy được là sẽ khiến đạo đức thế gian con người hỗn loạn,
đối với xã hội sẽ dẫn khởi sự căng thẳng ác liệt như thế nào.
Trong tuyên truyền của Trung Cộng, các má không chỉ là nhà cách mạng, nhà triết học,
nhà khoa học mà còn là một con người hoàn hảo về mặt đạo đức.
Tuy nhiên, tình huống thực tế lại hoàn toàn khác xa.
Năm 1843, tiểu thư quý tộc Jenny 25 tuổi gãi cho Mark,
còn đem theo một người hậu tên là Helen.
Xưa nay, Mark tỏ ra ghét cay ghét đắng sự bốc lột,
nhưng lại yên tâm dùng tiền của nhà tư bản Angen, vốn xuất thân từ việc bốc lột này,
lại bốc lột sức lao động của người nữ bọc Helen mà không trả cho cô một số nào,
thậm chí cưỡng đoạt thân thể Helen vào năm 1850, và khiến Helen sinh ra một đứa con trai.
Đương thời, Jenny bởi vì sự việc này mà đã cãi vã với Mark,
vậy là Mark hướng ánh mắt tới người bạn độc thân Angen,
vì giữ thanh danh của người đồng minh chủ nghĩa Cộng sản, mà để Angen thế tội.
Đứa con trai ngoài giá thú đó đã mang hò của Angen,
được Angen gửi cho công nhân trong nhà nuôi dưỡng.
Angen do bị ung thư cổ hồng trước khi chết, chịu nỗi khổ bị căm, không thể nói được,
đã viết lại rằng Henry Fred là con trai của Mark,
Tessie con gái của Mark đã lý tưởng hóa cha cô rồi,
Henry là con riêng của Mark mà Tessie là con gái của Mark.
Vụ bê bối này đến nay đã được công khai tại Viện Bảo tàng Đông Đức.
Tháng 6 năm 2004, tạp chí thần kinh học châu Âu The European Journal of Neurology
công bố ba bác sĩ người Israel tham khảo tài liệu lịch sử đưa ra kết luận
Lenin trước khi lãnh đạo cách mạng tháng 10 năm 1917 đã bị nhiễm bệnh gian mai ở châu Âu
và chết vào năm 1924.
Những tài liệu tham khảo lịch sử gồm có
các hồ sơ của bác sĩ khi trị liệu cho Lenin tại châu Âu và Liên Xô
và những tài liệu về tình trạng sức khỏe của Lenin,
bao gồm cả báo cáo khám nghiệm tử thi mà được những nhà nghiên cứu gọi là
tuyên truyền chính trị.
Một trong những nhà nghiên cứu bác sĩ tâm thần Vladimir Lerner
đã nói với phóng viên của thời báo New York Times
nếu như bỏ đi danh tính của Lenin
mà đưa bệnh án đó cho bất kỳ một nhà thần kinh học thành thạo bệnh truyền nhiễm,
họ sẽ đều kết luận là bệnh gian mai.
Đảng viên Trung Cộng trước cuộc cách mạng hầu hết đều là những người theo chủ nghĩa cấm dục,
tuy nhiên không ai có thể nghi ngờ thông tin Mao Trạch Đông có ba người vợ.
Dương Khai Huệ vẫn chưa chết thì kết hôn với Hạ Tử Trân,
khi còn chưa ly hôn với Hạ Tử Trân thì đã lại kết hôn với Giang Thanh.
Năm 1994, Lý Chí Tùy, người làm viện 22 năm bên cạnh Mao Trạch Đông một thời gian dài,
đã xuất bản một quyển sách, Bí mật cuộc đời Mao Trạch Đông, hồi ký bác sĩ Lý Chí Tùy,
công bố Mao Trạch Đông thỏa sức phóng túng nhục nhục, cuộc sống sinh hoạt hết sức thối nát.
Trong sách đề cập đến việc Mao không ngừng coi phụ nữ như trò tiêu khiển,
gọi vô số các cô gái đẹp, gái trẻ đến phục vụ, coi phụ nữ như những món ăn đung phiên, tiến cống.
Vệ sĩ của Mao Trạch Đông nói rằng trong thời gian xảy ra nạn đói lớn Mao không ăn thịt,
để biểu thị cùng nhân dân đồng cam cộng khổ.
Mà sự thật thì năm 1959, khi nạn đói phát sinh, Mao đã chỉ thị Trương Bình Hóa,
bí thư tỉnh ủy Hồ Nam xây dựng khu biệt thự ở Tích Thủy Động, lấy tên số hiệu là Công trình 2.3,
khởi công từ nửa cuối năm 1960 đến năm 1962 đã hoàn thành.
Tổng diện tích xây dựng 3.638,62 m2 kết hợp với dự án số hiệu 1.2.3,
xây dựng hầm ngầm từ Thiều Sơn, nơi sinh Mao Trạch Đông, đến đường quốc lộ Tích Thủy Động.
Khi xây dựng xong, phí tổn lên đến hơn 100 triệu nhân dân tệ.
Nếu số tiền này dùng để mua lương thực thì tỉnh Hồ Nam sẽ cứu được ít nhất 15 triệu người khỏi chết đói trong vòng 3 năm.
Cuộc sống hoang dâm của các lãnh tụ Đảng Cộng sản không chỉ giới hạn tại phương diện túng dục,
mà còn mưa quyền, lạnh lùng tàn nhẫn, buông thả, phóng đảng,
bởi vì thiếu đi tính ngưỡng ước thúc, đạo đức ước thúc, phương tiện truyền thông theo dõi.
Tuy vậy lợi dụng quyền lực quốc gia mà hành ác, hậu quả của nó cực kỳ tai hại,
mà phẩm chất thấp kém đò lạc ấy lại khởi tác dụng làm mô phạm dẫn động đạo đức xã hội nhanh chóng tuột dốc.
Tạo thần trở thành cơ sở của chế độ độc tài cá nhân bởi vì thần sẽ không phạm sai lầm,
lãnh đạo Đảng Cộng sản cũng tự nhiên trang bị cho mình cái lốt vỏ bọc chân lý,
sao cho những người khác phải mù quán tin theo nó là được.
Sau đó nhấc ngôn đường cùng nói một lời được hợp lý hóa,
một bộ não thay thế hàng trăm triệu bộ não, hậu quả cái tính tai nạn này lại không được cãi chính lại.
Tư tưởng độc lạp trở thành một sự tình nguy hiểm,
bởi vì có thể sẽ đối đoàn với việc trung cộng không muốn có người đưa ra kết luận riêng,
do đó người ta tùy theo dòng chạy lớn, xuôi theo chiều gió v.v.
Tự mình không làm chủ được cuộc sống của chính mình,
tất cả vấn đề đều bắt chước theo trung cộng hoặc là chờ đợi tổ chức quyết định.
Một hậu quả khác của tạo thần chính là rất nhiều người khi đang bị bức hại rất nghiêm trọng,
vẫn cứ tin tưởng tổ chức tin tưởng đảng.
Khi người tin vào thần bị bức hại họ có thể cầu nguyện thần trong tâm,
gửi gắm hy vọng vào sự công bằng chính nghĩa của thần.
Mà khi những người theo vô thần luận bị bức hại,
họ không có cách nào tìm kiếm được quyền uy đạo đức cao hơn,
mà bị hãm trong một hoàn cảnh cô lập vô hạn.
Lúc này con người chỉ có thể tự an ủi mình rằng,
chính quyền trung ương là tốt, tổ chức ở trên sẽ làm rõ.
Loại tự dối mình dối người này cũng là kết quả trung cộng tự thần hóa chính nó.
Người tin thần khi gặp hoàn cảnh khó khăn sẽ cầu nguyện thậm chí đến chùa triền,
đào quán, tu viện, tháp hương hứa nguyện.
Người theo vô thần luận không có nơi nào để đi, vì vậy có khó khăn tìm tổ chức,
hy vọng đảng giải quyết vấn đề, lại không biết đảng mới thực sự là kẻ tạo ra vấn đề.
Trung cộng cướp đoạt chính quyền bước đầu là lũng đoạn truyền thông và giáo dục,
lấy nhấc ngôn đường làm phương thức truyền bá vô thần luận và thuyết ghi vật,
tiến hành thủ tiêu, xuyên tạc và trấn áp tín ngưỡng truyền thống,
tiến hành cải tạo tư tưởng phần tử tri thức,
tiến hành môi nhọ văn hóa truyền thống bằng nhiều cách,
diễu cực thành phong kiến mê tính, nhắc loạt miệt thị,
thao túng bổ máy bạo lực tiêu diệt ngữ xuất gia,
hoặc phần tử tri thức không chịu phục tùng văn hóa đảng,
hoặc dùng phương thức cắt đứt các nguồn sinh kế để ép buộc uy hiếp đối phương đầu hàng,
lại thông qua hành động tạo thần xung bái cá nhân để lắp đầy chỗ trống trong tín ngưỡng của con người.
Trong con mắt của Trung cộng, thừa nhận một loài văn hóa nào không phải là một vấn đề học thuật
hoặc vấn đề quan điểm đơn thuần, mà là vấn đề chính trị, vấn đề lập trường giai cấp.
Cho đến sau thời kỳ đại cách mạng văn hóa, văn hóa đảng cuối cùng ngoài giũa thành thục,
cũng đã đạt đến mức độ mà Trung cộng mong muốn là thay thế văn hóa truyền thống một cách hệ thống,
đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt,
từng thế hệ trẻ lớn lên đều phải chịu sự giáo dục của văn hóa đảng,
càng không hề biết đến quan niệm và văn hóa chính thống.