Trump Cao Tay: Nga Đổi Hướng, Xa Rời Trung Quốc Sau Hội Nghị Bước Ngoặt!

Thế Giới Tiêu Điểm
1.3K Người theo dõi
84 Lượt xem video·25 thg 2, 2025
Có những thời khắc trong lịch sử mà chỉ có một cuộc gặp gỡ cũng đủ làm rung chuyển cả bàn cờ quyền lực thế giới.
Một cái bắt tay có thể mở ra cánh cửa hòa bình,
hoặc đẩy thế giới đến bờ vực của một trực tự mới đầy bất ổn.
Và ngày hôm nay, giữa những ánh đèn chói lòi của Riga,
giữa những cái nhìn dò xét và những lời đàm phát đầy ấn ý,
Mỹ và Nga đã ngồi lại với nhau, lần đầu tiên sau nhiều năm đối đầu căng thẳng.
Nhưng điều bất ngờ hơn cả chính là phản ứng của Trung Quốc.
Khi Moscow bất ngờ phát đi tín hiệu muốn cải thiện quan hệ với Washington,
Bắc Kinh, đối tác mà Nga từng xem là đồng minh trên danh nghĩa, lại lặng lẽ thay đổi thái độ.
Phải chăng một cuộc đảo chiều chính trị đang diễn ra?
Phải chăng Nga đã nhìn thấy một viễn cảnh mới,
nơi Mỹ có thể là đối tác đáng tin cậy hơn Trung Quốc?
Còn Ukraine thì sao?
Khi Tổng thống Trump và Tổng thống Zelensky bước vào một cuộc khẩu chiến không khoan nhượng,
khi từng lời lẽ sắc bén trở thành vũ khí trong cuộc chiến chính trị,
câu hỏi đặt ra là
liệu sự thay đổi trong mối quan hệ Nga-Mỹ có đồng nghĩa với viện Ukraine bị bỏ rời?
Hay đây là nước cờ chiến lược cuối cùng để chấm dứt cuộc chiến kéo dài suốt 3 năm qua?
Nga đảo chiều quan hệ với Trung Quốc sau cuộc gặp với Mỹ
Ngày 18 tháng 2, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio và Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov
đã dẫn đầu các phái đoàn đến Ả Rập Saudi.
Cuộc gặp này đã diễn ra với trong nhiều bình luận trái chiều của giới truyền thông.
Có người nói rằng đàm phán hòa bình ở Ukraine thì sao lại không có Ukraine và EU?
Tuy nhiên, cuộc đối thoại cấp cao này có nội dung chính là thay đổi cách tiếp cận trong quan hệ Mỹ-Nga.
Chủ đề đàm phán hòa bình ở Ukraine chỉ là thứ yếu,
mặc dù đây cũng là điều kiện để cải thiện đối thoại giữa hai bên một cách hòa hợp.
Trên thực tế là trong suốt quá trình xung đột Ukraine đã có những cuộc đàm phán
không có sự tham gia trực tiếp của Nga hoặc Ukraine như dưới thời Tổng thống Biden.
Các cuộc đàm phán này chủ yếu được tổ chức bởi các quốc gia và tổ chức khác.
Chẳng hạn như các quốc gia thuộc EU, các đối tác trong NATO hoặc các tổ chức quốc tế khác
nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột.
Cho đó, ngay cả khi cuộc đối thoại Mỹ-Nga có trọng tâm là thỏa thuận hòa bình
mà không có mặt Ukraine, thì nó cũng không đáng trở thành tâm điểm để chỉ trích chính quyền Trump.
Điều người ta quan tâm nhất là kết quả của cuộc đàm phán cấp cao giữa Nga và Hoa Kỳ
được đánh giá là đi vào lịch sử.
Thứ nhất, hai bên nhất trí khôi phục đầy đủ chức năng của các đại sứ quán tại Washington và Moscow,
đánh dấu bước đầu tiên trong việc bình thường hóa quan hệ sau nhiều năm căng thẳng.
Thứ hai, Mỹ và Nga đồng ý thành lập các nhóm đàm phán cấp cao nhằm tìm kiếm giải pháp
bình vẩn cho xung đột ở Ukraine.
Với sự tham gia của các chuyên gia và quan chức từ cả hai bên,
hai bên bắt đầu thảo luận về khả năng hợp tác trong các lĩnh vực địa chính trị
và kinh tế sau khi xung đột ở Ukraine được giải quyết,
mở ra triển vọng cho mối quan hệ hợp tác trong tương lai.
Thứ ba, Mỹ và Nga cam kết tôn trọng lợi ích của nhau trong quá trình thúc đẩy quan hệ song phương,
thể hiện sự sẵn sàng hợp tác và giải quyết các vấn đề còn tồn động.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga là bà Maria Zakharova gọi cuộc đàm phán là khúc dạo đầu
cho nỗ lực cải thiện quan hệ song phương và giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Còn Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump bày tỏ sự tự tin hơn về khả năng đạt được thỏa thuận
chấm dứt xung đột ở Ukraine sau cuộc đàm phán, cho thấy sự lạc quan trong việc giải quyết vấn đề này.
Bản thân Tổng thống Trump đã đề xuất một cuộc gặp trực tiếp với Tổng thống Nga Vladimir Putin
trong tháng 2 năm 2025, nhằm thúc đẩy quá trình đàm phán và tìm kiếm giải pháp cho xung đột ở Ukraine.
Như vậy, cuộc đàm phán này được xem là bước tiến quan trọng
trong việc cải thiện quan hệ giữa Nga và Hoa Kỳ,
đồng thời mở ra cơ hội cho việc giải quyết xung đột ở Ukraine.
Tuy nhiên, việc đạt được một thỏa thuận hòa bình bền vững đòi hỏi sự nhượng bộ và cam kết
từ cả hai bên, và đó vẫn còn là một con đường rất dài.
Điều ngạc nhiên nhất là phản ứng của Tổng thống Ukraine Zelensky vào ngày 19 tháng 2.
Ông Zelensky đã cáo buộc Tổng thống Mỹ Donald Trump đang ở trong bong bóng thông tin sai lệch do Nga tạo ra.
Ông Zelensky chỉ trích Trump vì các tuyên bố của ông liên quan đến cuộc chiến ở Ukraine,
và cho rằng Trump đã không hiểu đúng về tình hình.
Zelensky cho rằng Trump đang dựa vào thông tin sai lệch và tuyên bố rằng
chiến tranh ở Ukraine là một phần của chiến lược do Nga tạo ra.
Đáp lại Tổng thống Mỹ đã viết trên Truth Social như sau.
Hãy nghĩ về điều này. Một diễn viên hài có chút thành công khiêm tốn.
Volodymyr Zelensky đã thuyết phục Hoa Kỳ chi 350 tỷ đô la để tham gia vào một cuộc chiến tranh không thể thắng.
Cuộc chiến không bao giờ cần phải khai chiến, nhưng một cuộc chiến tranh mà ông ta,
nếu không có Hoa Kỳ và Trump, sẽ không bao giờ có thể giải quyết được.
Hoa Kỳ đã chi nhiều hơn châu Âu 200 tỷ đô la, và tiền của châu Âu được bảo đảm,
trong khi Hoa Kỳ sẽ không nhận lại được gì.
Tại sao Joe Biden buồn ngủ lại không yêu cầu bình đẳng,
trong khi cuộc chiến này quan trọng với châu Âu hơn nhiều so với chúng ta?
Chúng ta có một đại dương lớn, xinh đẹp, phân cách.
Trên hết, Zelensky thừa nhận rằng một nửa số tiền chúng ta gửi cho ông ta là mất.
Ông ta từ chối bầu cử, có tỷ lệ rất thấp trong các cuộc thăm dò ý kiến của Ukraine.
Và điều duy nhất ông ta giỏi là lợi dụng Biden.
Là một nhà độc tài không qua bầu cử, Zelensky tốt hơn nên hành động nhanh chóng,
nếu không, ông ta sẽ không còn quốc gia nữa.
Trong khi đó, chúng ta đang đàm phán thành công để chấm dứt chiến tranh với Nga,
điều mà tất cả đều thừa nhận là chỉ có Trump và chính quyền Trump mới có thể làm được.
Biden chưa bao giờ cố gắng, châu Âu đã không mang lại hòa bình,
và Zelensky có lẽ muốn duy trì, ngồi mát ăn bát vàng.
Tôi yêu Ukraine, nhưng Zelensky đã làm một công việc tồi tệ.
Quốc gia của ông ta đã tan vỡ, và hàng triệu người đã chết một cách không cần thiết,
và cứ thế tiếp diễn.
Điều kê sốc là Tổng thống Trump gọi Tổng thống Ukraine là độc tài.
Khi đưa ra cáo buộc này, Tổng thống Trump đã nói ông có đầy đủ thông tin tình báo về vấn đề này.
Tại sao là như vậy?
Đã có những báo cáo cho thấy ông Zelensky bị chí trích
vì các hành động hạn chế quyền tự do báo chí tại Ukraine.
Một trong những quyết định gây tranh cãi là việc ông đã ra lệnh đóng cửa một số kênh truyền hình
và đài phát thanh được cho là có liên quan đến các tổ chức chính trị
và lợi ích đối lập với chính quyền của ông.
Đặc biệt vào năm 2021, chính quyền đã đình chỉ phát sóng ba kênh truyền hình lớn ở Ukraine
vì cáo buộc liên quan đến việc phát tán thông tin giả và hỗ trợ cho các nhóm thân Nga.
Quyết định này bị cho là hành động kiểm soát truyền thông và phi phạm quyền tự do ngôn luận.
Dưới thời Tổng thống Volodymyr Zelensky, Ukraine đã hợp nhất tất cả các nền tảng truyền hình lớn
thành một kênh tin tức 24 giờ do nhà nước kiểm soát vào tháng 3 năm 2022
để thống nhất thông điệp trong cuộc chiến với Nga, đồng thời loại bỏ các kênh đối lập như RIAMI.
Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ USAID tài trợ cho phần lớn các phương tiện truyền thông độc lập của Ukraine.
Như một số cơ quan truyền thông như Babel và Detector Media,
đã bị cáo buộc chê dấu những câu chuyện về chế độ nghĩa vụ quân sự cứng bức
và phù hợp với các tường thuộc của chính phủ.
Theo như The Red Cross đưa tin vào tháng 2 năm 2025, kể từ khi Nga sắp nhập RIAMI vào năm 2014,
chính quyền Nga cũng đã áp dụng biện pháp kiểm soát truyền thông chặt chẽ tương tự,
đóng cửa các kênh truyền hình Ukraine và yêu cầu đăng ký với cơ quan quản lý của Nga,
tạo nên sự thống trị gần như hoàn toàn của truyền thông Nga trong khu vực.
Cuộc chiến đang diễn ra đã dẫn đến nguy cơ gia tăng đối với các nhà báo
với những hạn chế về quyền tiếp cận tuyến đầu, các cuộc tấn công thực tế và tấn công mạng,
trong khi chính quyền bảo vệ các biện pháp này là cần thiết để chống lại thông tin sai lệch của Nga.
Tổng thống Zelensky còn bị cáo buộc lạm dụng quyền lực của mình để đàn áp các phe đối lập,
đặc biệt là trong bối cảnh chiến tranh với Nga.
Năm 2022, Zelensky đã thông qua luật cấm 11 đảng phá chính trị và hạn chế phương tiện truyền thông,
bao gồm luật hình sự hóa việc biện minh cho hành động xâm lược của Nga với hình phạt lên tới 8 năm tù,
gây ra sự chỉ trích từ các nhóm nhân quyền, các đảng đối lập và các nhà hoạt động chính trị cho rằng
chính quyền của ông đã gia tăng sự kiểm soát và đàn áp những tiếng nói bất động.
Một số vụ việc khiến ông bị cáo buộc có tính chất độc tài là các cuộc điều tra hình sự
đối với các chính trị gia và doanh nhân có quan điểm phản đối hoặc chỉ trích chính phủ của ông.
Trong suốt cuộc chiến với Nga, ông Zelensky đã ban hành các biện pháp khẩn cấp để duy trì trực tự và bảo vệ đất nước.
Điều này bao gồm việc giới thiệu các luật hạn chế quyền tự do như lệnh cấm biểu tình,
hạn chế quyền tự do di chuyển và các biện pháp khác nhằm bảo vệ an ninh quốc gia.
Mặc dù các biện pháp này có thể được hiểu là cần thiết trong thời gian chiến tranh,
nhưng một số nhà phê bình cho rằng chúng là cách để củng cố quyền lực của ông
và hạn chế quyền tự do của người dân.
Một trong những chỉ trích lớn nhất đối với Zelensky là việc không tổ chức bầu cử trong suốt cuộc chiến với Nga.
Mặc dù lý do chính của việc này là bảo vệ sự ổn định và an ninh quốc gia,
nhiều người cho rằng việc không tổ chức bầu cử trong bối cảnh này là một dấu hiệu
của sự tập trung quyền lực vào tay chính quyền và có thể bị xem là hành động độc tài.
Một số chính trị gia đối lập và tổ chức dân sự đã yêu cầu tổ chức bầu cử để đảm bảo
tính dân chủ và sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý đất nước.
Ông Zelensky đã bị chỉ trích việc can thiệp vào hệ thống tư pháp của Ukraine,
đặc biệt là trong việc thay đổi và hạn chế quyền hạng của Tòa án Hiến pháp Ukraine.
Vào năm 2020, ông đã ký xác lệnh sa thải các thẩm phán của Tòa án Hiến pháp
sau khi ông ra phán quyết không có lợi cho chính phủ.
Động thái này bị các nhà phê bình cho là sự can thiệp vào hệ thống tư pháp độc lập
và gây lo ngại về việc tập trung quyền lực vào tay hành pháp.
Ông Zelensky còn bị chỉ trích là đã tập trung quyền lực vào tay Tổng thống,
hạn chế quyền lực của các cơ quan khác trong hệ thống chính trị.
Các cuộc cải cách hiến pháp và thay đổi trong hệ thống chính trị đã tạo điều kiện
cho Tổng thống Zelensky mở rộng ảnh hưởng và kiểm soát trực tiếp hơn đối với các cơ quan nhà nước,
đồng thời giảm bớt ảnh hưởng của quốc hội và các cơ quan đối lập.
Như chúng ta đã thấy, trong 48 giờ, cuộc chiến nguồn từ giữa hai nhà lãnh đạo Mỹ-Ukraine
đang diễn ra với những lời lẽ gây cắt nhịp.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ J.D. Fan đã cảnh báo Tổng thống Ukraine Zelensky vào ngày 19 tháng 2
rằng việc công khai bôi nhọ Tổng thống Trump là một động thái cực kỳ tồi tệ và sẽ chỉ phản tác dụng.
Những phát biểu của Trump không dựa trên thông tin sai lệch của Nga,
mà dựa trên thông tin tình báo có căn cứ.
Như vậy có thể thấy, sóng gió chính trường quốc tế liên tục đảo chiều.
Sau những dấu hiệu ấm lên gần đây trong quan hệ Mỹ-Nga,
thì lãnh đạo Ukraine và Mỹ rơi vào cuộc khẩu chiến nghiêm trọng,
còn Trung Quốc và Nga cũng bắt đầu có những dấu hiệu thay đổi đáng chú ý.
Truyền thông Tiếng Trung ngày 19 tháng 2 viết rằng Alexander Losev,
thành viên Đoàn Chủ tịch Hội đồng Chính sách Đối ngoại và Quốc phòng Nga,
gần đây đã có lời chỉ trích hiếm hoi và gây gắt đối với Bắc Kinh
trên đài truyền hình công cộng Nga, ORT.
Không thể chấp nhận được việc ăn mừng Tết nguyên đáng của Trung Quốc tại Nga.
Vụ sâu máy bay không người lái của Trung Quốc đang tàn sát binh lính của chúng ta
và máu của những người lính Nga đã nhiệm đỏ những chiếc đèn lồng đỏ của Tết nguyên đáng.
Trên thực tế, Trung Quốc luôn đặt mình ở vị thế cao hơn trong quan hệ với Nga.
Từ năm 2022, Trung Quốc ôi ép Nga do nước này đang lâm vào thế yếu đi do trừng phạt từ phương Tây.
Bắc Kinh luôn chặn các khoản thanh toán và chuyển khoản ngân hàng của Nga trong nhiều tháng.
Cùng lúc đó, Trung Quốc từ chối cung cấp thiết bị cho dự án Arctic LNG-2
và đơn phương hủy hợp đồng.
Khi do án thất bại, mặt khác Trung Quốc cũng từ chối mua dầu của Nga
chủ yếu là vì sợ lệnh trừng phạt.
Thật ra đây là chiêu ép giá.
Những diễn biến này vốn dĩ là khi Moscow không hài lòng.
Nhưng trong bối cảnh quan hệ Nga-Mỹ bắt đầu tan băng
với những tín hiệu tích cực cho đối thoại và hợp tác,
giới chức Nga này tỏ ra mạnh dạng hơn khi lên tiếng về vấn đề Trung Quốc.
Đây có thể xem là dấu hiệu đầu tiên cho thấy chiến lược của Tổng thống Trump
đang dần phát huy hiệu quả,
làm suy yếu mối liên kết vốn mong manh giữa Nga và Trung Quốc.
Bây giờ chúng ta sẽ nói tới châu Âu.
Trong khi Hoa Kỳ và Nga đã đạt được cuộc tiếp xúc cấp bộ trưởng ngoại giao đầu tiên
sau hơn 3 năm tại Ả Rập-Saudi,
mở đường cho cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Tổng thống Putin,
thì cùng lúc đó Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen
đã gặp một phái viên khác của Tổng thống Trump tại Úc.
Sau đó ngày 18 tháng 2, bà von der Leyen đã đăng trên Instagram,
EU hy vọng sẽ hợp tác với Hoa Kỳ
để đạt được hòa bình lâu dài và công bằng tại Úc.
Bà von der Leyen đã sử dụng cường từ hợp tác với các dòng trạng thái của mình,
có nghĩa là hợp tác với tư cách là đối tác,
thì mong muốn mạnh mẽ và không muốn tách khỏi Hoa Kỳ
trong quá trình đàm phán hòa bình.
Đây là diễn biến quan trọng và cũng là biện pháp gây sức ép lên Tổng thống Nga Putin.
EU vừa khuyến khích tăng viện trợ quân sự cho Ukraine,
đây tự nó đã là một tín hiệu tích cực cho Tổng thống Zelensky.
Đúng là đã đến lúc châu Âu phải tự chịu trách nhiệm về an ninh của mình.
Thật khó chịu khi bị ép buộc hoặc bị đe dọa,
nhưng việc bước ra khỏi vùng an toàn và đối mặt với trách nhiệm của mình
chắc chắn không phải là một trải nghiệm dễ chịu.
Các hành động của EU thực chất chủ yếu tập trung
vào một số quốc gia lớn như Pháp, Đức và Ý.
Chúng ta không thể trông cậy vào Pháp và Ý, vì vậy chủ yếu phải trông cậy vào Đức.
Vương quốc Anh là quốc gia rất quan ngại về các vấn đề của châu Âu,
nhưng hiện không còn là thành viên của EU.
Ngày 18 tháng 2, chính phủ Đức đã ban hành danh sách viện trợ vũ khí mới cho Ukraine.
Ngày 24 tháng 2, Ủy ban châu Âu sẽ cử một phái đoàn đến thăm Ukraine,
mang theo một kế hoạch viện trợ trị giá 6 tỷ euro.
Bề mặt là vậy, nhưng phần lớn hàng viện trợ là đạn pháo.
Một phần nhỏ là vũ khí phòng không, một số xe bọc thép và máy bay không người lái.
Tuy nhiên trên thực tế, điều mà Ukraine cần nhất là bổ sung nhân lực.
Quân đội thứ hai là vũ khí tấn công tạm xa.
Và cấp thiết nhất chính là máy bay chiến đấu hiện đại, chẳng hạn như F-15 và F-16.
Ưu thế trên không trên chiến trường có thể ngăn chặn đáng kể lợi thế về sức mạnh của quân đội Nga,
đồng thời phản vi hoạt động rộng của máy bay chiến đấu có thể tấn công các mục tiêu kinh tế
và chiến lược sâu hơn của Nga.
Nếu việc sở hữu máy bay chiến đấu đã khó,
thì việc sở hữu tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo cũng khó khăn không kém.
Tuy nhiên, EU vẫn không thể cung cấp cho Ukraine ba thứ này,
quân đội, máy bay chiến đấu và vũ khí tầm xa.
Xét theo danh sách viện trợ mới, chúng vẫn là vật liệu tiêu hào thông thường và phòng thủ.
Nhiều nhất có thể là duy trì mức tiêu thụ của tiền tuyến,
cho nên những khoản viện trợ này thú thực không thể giúp Ukraine chiến thắng trong cuộc chiến chống Nga,
thậm chí còn mang thêm nhiều đau khổ cho người dân nơi đây bởi cuộc chiến còn phải kéo dài.
Chúng ta biết rằng phần lớn lãnh thổ Ukraine nằm trong phạm vi 1.000 km tính từ Moscow
và một phần đáng kể nền kinh tế Nga tập trung ở khu vực Moscow và St. Petersburg.
Tỉnh Moscow và thành phố Moscow chiếm hơn 20% tổng nền kinh tế của nước Nga trước khi chiến tranh nổ ra.
Cùng với vùng St. Petersburg, nó chiếm hơn 30% nền kinh tế của Nga.
Do đó, chỉ cần Ukraine tấn công tên lửa tầm xa vào các cơ sở kinh tế và cơ sở hạ tầng năng lượng và điện
ở những nơi này thì sẽ gây ra rắc rối lớn cho Tổng thống Putin.
Nếu EU có thể cung cấp cho Ukraine mức độ hỗ trợ này, tình hình của Ukraine mới hy vọng được cải thiện đáng kể.
Chẳng phải châu Âu đặc biệt là Anh, Pháp đã tuyên bố gửi quân tới Ukraine sao?
Đúng vậy, nhưng đó chỉ là lời nói xả giao.
Vì NATO là một cơ chế phòng thủ, họ chỉ phản ứng tập thể khi các nước NATO bị tấn công.
Nếu một số quốc gia thành viên thành lập một nhóm và chủ động can thiệp vào cuộc xung đột,
các nước khác sẽ không gửi quân tham chiến.
Cơ chế của NATO có một điểm, đó là không kết nạp thành viên đang có xung đột vào liên minh.
Do đó, khi còn chiến tranh, Ukraine không thể nào vào được NATO.
Hơn nữa, nếu cung cấp vũ khí xa sẽ khiến châu Âu tự mình đặt vào nguy cơ bị lôi kéo vào cuộc chiến.
Đồng thời, Ukraine cũng sẽ phải gánh chịu đòn trả đũa bằng không quân dữ dội hơn của Nga.
Khi đó, EU sẽ cần cung cấp cho Ukraine khả năng bảo vệ phòng không mạnh hơn,
điều này lại càng tốn kém hơn.
Đây là lý do tại sao EU không muốn hỗ trợ Ukraine những loại vũ khí tầm xa.
Xuyên đi tính lại thì rõ ràng EU không thể giải quyết được xung đột ở Ukraine.
Hành động họ làm chỉ khiến Ukraine rơi vào tình trạng tồi tệ hơn mà thôi.
Ngoài ra, EU vẫn phụ thuộc một phần vào năng lượng của Nga.
Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và không khí sạch,
thì EU là bên mua nhiên liệu hóa thạch lớn thứ tư của Nga vào tháng 1 năm 2025
với lượng nhập khẩu 90%, 1,6 tỷ euro.
Gần một nửa lượng nhập khẩu này bao gồm LNG của Nga có giá trị 796 triệu euro.
Sau ba năm xung đột, EU buộc phải đối mặt với một thực tế không thể phủ nhận.
Họ không thể từ bỏ nguồn năng lượng từ Nga vì chưa có một giải pháp thay thế đủ bền vững.
Càng cố siết chặt các biện pháp trừng phạt nhằm ngăn chặn dòng dãy dầu mỏ của Nga
ra thị trường quốc tế, giá dầu thế giới lại càng leo thang.
Khi phân tích kỹ lượng các có viện trợ quân sự từ EU,
có thể thấy chúng chưa đủ để giúp Ukraine giành được lợi thế rõ rệt.
Một sự hỗ trợ mang tính nửa vời.
Nếu EU thực sự quyết liệt, họ sẽ thực hiện các biện pháp khẩn cấp
chấm dứt hoàn toàn việc nhập khẩu dầu và khí đốt từ Nga.
Đó mới là dấu hiệu cho thấy họ nghiêm túc trong việc hỗ trợ Ukraine.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy điều đó sẽ xảy ra.
Do đó, tiến trình hòa bình trong tương lai vẫn phải dựa vào vai trò của Hoa Kỳ.
Vậy thì tại sao EU lại vẫn thể hiện sự nhiệt thành của mình để ủng hộ Ukraine?
Họ vẫn ôn nổi ám ảnh về Nga như thời chiến tranh lạnh.
Họ nói rằng họ muốn bảo vệ nền tự do dân chủ của mình.
Nhưng trên thực tế, EU đã lệch tả từ lâu trong hệ tư tưởng của mình.
Đây không phải là cáo buộc vô cỡ.
EU, đặc biệt là các quốc gia Bắc Âu, đã thực hiện các chính sách xã hội mạnh mẽ,
bao gồm hệ thống bảo hiểm y tế toàn dân, giáo dục miễn phí hoặc chi phí thấp,
trợ cấp thất nghiệp và các phúc lợi xã hội khác.
Điều này tưởng chừng là tốt đẹp, nhưng trên thực tế,
họ cố gắng ràng buộc người dân phụ thuộc vào các gói ăn sinh xã hội,
từ đó tăng tiền thuế của người dân.
Đặc trưng của xã hội lệch tả là siêu cao thuế nặng,
và quyền lực của chính phủ quá lớn, và quyền hạng của người dân thì quá ít.
EU thúc đẩy chương trình nghị sự xanh để chống biến đổi khí hậu
và phát triển kinh tế bình vẩn.
Nhưng các công nghệ thay thế như pin lithium-ion, điện mặt trời và điện gió
đòi hỏi khai thác khối lượng lớn tài nguyên thi nhiên, lithium, cobalt,
kim loại hiếm, gây ô nhiễm môi trường tại các khu vực khai thác.
Chiến sách hội nhập và đa văn hóa của EU tạo ra sự pha trụng văn hóa,
nhưng cũng làm mờ nhạc bản sắc truyền thống của các quốc gia thành viên,
gây lo ngại trong những nhóm bảo thủ.
Bên cạnh đó, nhập cư ô ạt tạo áp lực lên hệ thống phúc lợi và cơ sở hạ tầng,
khi nhiều quốc gia gặp khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ công như y tế,
giáo dục và việc làm.
EU cũng đi đầu trong việc thúc đẩy quyền LCPTQ vào quyền phụ nữ,
bao gồm hùng nhân đồng giới, quyền sinh sản và bình đẳng giới.
Tuy nhiên, những chiến sách này đôi khi bị xem là thiên về cánh tả,
đối lập với giá trị bảo thủ tại một số quốc gia thành viên.
Quý vị có thể thấy những giá trị phổ quắc mà EU từng tự hào đã bị sói mòn từ lâu.
Đây cũng là lý do khi Phó Tổng thống Mỹ Sidi Vence lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ EU.
Dưới góc nhìn của chính quyền Tổng thống Trump,
nước Mỹ phải kiên định bảo vệ các giá trị quốc loại của mình,
tự do, dân chủ, nhân quyền.
Nhưng liệu họ có thể tiếp tục bảo vệ các đồng minh
khi chính những đồng minh đó đang đi ngược lại với những giá trị nền tảng của nhân loại?
Nếu Mỹ không đánh thức EU, thì hệ tư tưởng của châu Âu liệu có gì khác so với Trung Quốc,
một thế lực chủ chốt của thế giới thứ ba?
Đây chính là nghịch lý khiến Washington khó lòng bảo vệ châu Âu.
Vấn đề đặt ra là nếu EU tuyên bố bảo vệ Ukraine trước Nga hay chống lại chủ nghĩa độc tài,
thì liệu việc bảo vệ một quốc gia đang bị coi là độc tài có ý nghĩa gì?
Họ thật sự đang chiến đấu vì điều gì và chống lại ai?
Sự mâu thuẫn này phản ánh sự lệch lạc trong nhận thức của các chính trị gia EU hiện tại.
Rất có thể trong tương lai không xa, châu Âu sẽ chứng kiến những biến động lớn trong giới lãnh đạo cầm quyền.
Hoặc nếu không, chính họ sẽ phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ không thể tránh khỏi.
