CHIỀU LÒNG MỸ, VIỆT NAM ÂM THẦM PHẢN CÔNG BẮC KINH

Góc Nhìn Lê Minh
705 người theo dõi
2.2K Lượt xem video·25 thg 4, 2025
Thưa quý vị, hôm 22 tháng 4, các phương tiện truyền thông quốc tế đăng tải thông tin
về việc Hoa Kỳ áp thuế lên tới 3.521% đối với tấm pin mặt trời sản xuất tại Đông Nam Á
gồm Việt Nam, Campuchia, Malaysia và Thái Lan.
Phía Hoa Kỳ kết luận rằng các công ty Trung Quốc đã lách thuế bằng cách chuyển công đoạn lắp giáp
sang các quốc gia này. Dù không nêu đích danh doanh nghiệp Việt Nam nào bị phạt 3.521%,
nhưng một số nhà sản xuất tại Việt Nam cũng bị coi là liên quan đến hành vi né chánh
và sẽ bị áp thuế tương đương nếu không chứng minh được xuất xứ độc lập.
Có một chi tiết mà chúng ta cần chú ý đó là Việt Nam nằm trong danh sách các quốc gia
bị điều tra và xem xét áp thuế, nhưng Hoa Kỳ đã tạm hoãn áp dụng mức thuế trừng phạt 4-6%
cho Việt Nam đến tháng 7 năm 2025, trong khi các quốc gia như Campuchia bị đánh thuế ngay lập tức.
Lý do cho sự tạm hoãn này là Việt Nam đã hợp tác tốt hơn trong điều tra và một số doanh nghiệp
đã chứng minh được mức độ nội địa hóa cao hơn. Hoa Kỳ muốn tạo điều kiện cho Việt Nam điều chỉnh
của chuỗi cung ứng như tăng minh bạch xuất xứ, giảm phụ thuộc linh kiện Trung Quốc.
Tức là Việt Nam không bị miễn trử, nhưng được gia hạn sinh tồn để chứng minh mình
không phải là cửa ngách trá hình của Bắc Kinh.
Trong thế trận lắt léo giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, chỉ một bước đi sai, Việt Nam sẽ mất vị thế,
mất thị trường và mất cả quyền kiểm soát chuỗi cung ứng quốc gia.
Vậy bài toán mà Việt Nam đang phải đứng đầu liệu có lời giải vẹn toán hay không?
Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu trong video ngày hôm nay.
Việc Hoa Kỳ tạm hoán thuế 46% lên Việt Nam là một tín hiệu chiến lược kép. Về tính tích cực,
Hoa Kỳ muốn giữ Việt Nam trong chuỗi cung ứng năng lượng sạch và vẫn coi Việt Nam là đối tác
có thể tách khỏi quy đạo sản xuất của Trung Quốc. Washington đang tạo điều kiện để các nhà đầu tư
Hoa Kỳ và đồng minh tiếp tục làm ăn tại Việt Nam. Nhưng đây lại là hồi chung cảnh báo,
nếu không cải tổ chuỗi cung ứng, mức thuế sẽ tiếp tục tăng và sẽ được áp dụng không thương tiếc
sau tháng 7 năm 2025. Nếu tiếp tục để các công ty Trung Quốc mượn danh nghĩa sản xuất tại Việt Nam,
thì Việt Nam sẽ bị xếp cùng nhóm với Campuchia, chịu trung trừng phản. Đây cũng là lời cảnh báo về
việc không được đứng giữa hai thế lực Mỹ-Trung trong lĩnh vực công nghệ nhạy cảm. Nếu Việt Nam đi
đúng hướng, Hoa Kỳ có thể giữ lại Việt Nam như một pháo đài sản xuất thay thế Bắc Kinh. Nếu không,
tháng 7 sẽ là thời điểm búa thuế rơi xuống không khác gì Campuchia, Malaysia hay Thái Lan.
Việt Nam đã rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt thời cơ. Hà Nội đã hiểu rõ thông điệp. Hôm 23 tháng 4,
Reuters đưa tin về tài liệu cho thấy Việt Nam đang ngăn chặn gian lận trong xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
Báo cáo đề cập đến sự kiện ngày 15 tháng 4 năm 2025, ngay sau khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
kết thúc chuyến thăm chính thức tới Việt Nam, Bộ Công thương Việt Nam đã ban hành một chỉ thị
mang tính chiến lược nhằm ngăn chặn tình trạng chuyển tải bất hợp pháp hàng hóa, một vấn đề
ngày càng nổi cộm giữa lực Hoa Kỳ đẩy mạnh cuộc chiến thương mại toàn cầu dưới thời Tổng thống
Donald Trump. Chỉ thị này không chỉ là phản ứng kỹ thuật để làm giữ áp lực từ Washington,
mà còn là lời tuyên bố gián tiếp rằng Việt Nam sẽ không chấp nhận bị biến thành lá chắn thuế
quan cho bất kỳ quốc gia nào. Điểm đặc biệt là chỉ thị được ban hành vào ngày kết thúc
chuyến công du của ông Tập Cận Bình, một dấu hiệu mang nhiều tầng nghĩa. Một mặt, Việt Nam thể hiện
nỗ lực hợp tác với Trung Quốc qua các thỏa thuận mới về thương mại, logistics và chứng nhận xuất xứ.
Một khác, Việt Nam cũng chủ động phát tin hiệu với Mỹ rằng Hà Nội đang kiểm soát chuỗi
công ứng một cách minh bạch và có trách nhiệm, không để bị lợi dụng như một điểm trung
chuyển hàng lần tránh thuế. Trung Quốc đe dọa, đòn răn hay công cụ phá vỡ thế cân bằng
Trong khi Việt Nam cố gắng duy trì vị thế trung lập chiến lược, Trung Quốc lại phát đi một loạt
thông điệp mang tính cảnh báo cao độ. CNBC đăng tải báo cáo với tiêu đề,
Trung Quốc thề sẽ trả đũa các nước tuân theo lời kêu gọi của Hoa Kỳ nhằm cô lập Bắc Kinh.
Ngay trong thời gian Chủ tịch Tập Cận Bình có mặt tại Hà Nội, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố
các quốc gia trong khu vực nên xem xét kỹ lưỡng lợi ích dài hạn trước khi ký kết các hiệp định thương
mại song phương với các thế lực bên ngoài. Đây không phải lời khuyên vô thường vô phạt,
mà là một kiểu lời nhắc có điều kiện đối với Việt Nam, quốc gia đang được Hoa Kỳ lôi kéo vào
quỹ đạo hợp tác song phương, đặc biệt sau khi Washington hóa náp thuế 46% với điều kiện cải cách thực chất.
Không dừng lại ở lời nói, Trung Quốc còn có nhiều công cụ thực tiễn để gây sức ép chiến lược với Việt Nam.
Thứ nhất là kiểm soát chuỗi nguyên liệu đồ vào. Trung Quốc hiện chiếm tới gần 40% lượng hàng hóa
nhập khẩu vào Việt Nam, chủ yếu là nguyên phụ liệu đồ vào cho sản xuất như sợi vải,
linh kiện điện tử, máy móc cơ khí và vật tư nông nghiệp. Chỉ cần một biện pháp hành chính như trì hoãn thông
quan, siết chuẩn kiểm dịch hay kiểm tra chéo xuất xứ, toàn bộ chuỗi sản xuất của Việt Nam có thể bị ngét mạch.
Đây là đòn bẩy mạnh mẽ nhưng vô hình mà Trung Quốc nắm trong tay.
Thứ hai là cài bẫy dữ liệu và chứng nhận xuất xứ CO. Một trong những thỏa thuận đạt được trong
chuyến thăm của ông Tập Cận Bình là việc tích hợp hệ thống dữ liệu cấp giấy chứng nhận xuất xứ ra hai nước.
Trên lý thuyết, điều này giúp tăng cường minh mạch thương mại. Nhưng thực tế nếu dữ liệu đầu vào từ
Trung Quốc là nguồn duy nhất cho việc xác nhận nguồn gốc hàng hóa tại Việt Nam,
thì toàn bộ chuỗi xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ có nguy cơ bị coi là trung chuyển có điều kiện.
Điều này sẽ vô hiệu hóa các nỗ lực của Việt Nam trong việc chứng minh sự độc lập chuỗi cung ứng.
Thứ ba, tác động dư luận và truyền thông định hướng. Các tờ báo như Global Times,
China Daily, Tân Hoa cũng đã đồng loạt đăng tải các bài viết trong tuần qua,
mô tả Việt Nam như một trạm trung chuyển chiến lược mà Mỹ đang khai thác trong cuộc chiến thuế quản mới.
Những bài viết này không chỉ gây nhễu thông tin mà còn định hướng dư luận nội bộ Việt Nam,
từ đó tạo sức ép chính trị từ trong nước đối với chính sách cân bằng của Hà Nội.
Và thứ tư đó là tái thiết lập ảnh hưởng địa chính trị trong ASEAN. Trung Quốc đẩy mạnh hợp tác song
phương với Campuchia, Lào và Myanmar, đồng thời thúc đẩy các hành lang kinh tế xuyên biên giới như
GMS và hành lang kinh tế Lào, Trung, Việt. Mục tiêu là tạo ra một vòng kiềm chế chiến lược buộc
Việt Nam phải tự chọn phe, sau đó Trung Quốc giữ vai trò đầu mối logistics và hạ tầng.
Và thứ năm đó là bẫy công nghệ và nền tảng số. Thông qua các thỏa thuận về hợp tác logistics
thông minh và AI trong chuỗi cung ứng, Trung Quốc, với đại diện là Huawei,
đang tìm cách cắm rễ vào các trung tâm quản trị hàng hóa lớn của Việt Nam.
Một khi dữ liệu logistics và AI vận hành phụ thuộc vào công nghệ Trung Quốc,
việc thoát ly sang hợp tác với phương Tây trở nên cực kỳ rủi ro về mặt hạ tầng.
Chúng ta vừa nói tới những đòn bẩy mà Trung Quốc có thể tung ra ngay để chấn áp Việt Nam,
xong câu hỏi đặt ra là những đòn bẩy chiến lược hay cạm bẩy dài hạn.
Việc Trung Quốc đề xuất hợp tác CEO, tài trợ logistics, triển khai AI và cung cấp tín dụng ưu
đái không hẳn là giúp đỡ vô điều kiện. Đó là một chuỗi hành động có chủ đích nhằm kéo Việt Nam
trở lại vị trí phụ thuộc, nhưng dưới danh nghĩa hợp tác cùng phát triển.
Nếu Việt Nam đồng thuận toàn diện với mô hình này, thì trong mắt Hoa Kỳ và cả các đối tác phương Tây,
Việt Nam sẽ mất dần tư cách làm một nền sản xuất độc lập mà chỉ còn là điểm chuyển tiếp chiến
lược trong chuỗi thương mại Trung Quốc. Đây chính là một kiểu bẫy chuỗi cung ứng hiện đại,
không cần chiếm lĩnh lãnh thổ, chỉ cần kiểm soát logic thương mại và dữ liệu,
một quốc gia đã có thể khiến quốc gia khác bị động hoàn toàn trong chế lược thương mại quốc tế.
Việt Nam ra chỉ thị, bước đầu cho một cuộc trời lớn.
Chính trong bối cảnh đó, chỉ thị ngày 15 tháng Tư của Bộ Công Thương Việt Nam trở nên
đặc biệt quan trọng. Điều đó phát đi một thông điệp rằng Việt Nam sẵn sàng tự kiểm soát và làm
trong sạch chuỗi cung ứng của mình, không cần Trung Quốc thay mình làm điều đó. Hành động này có thể coi
là lời đáp lại gián tiếp đối với chiến thuật đồng hành bắt buộc mà Bắc Kinh đang triển khai.
Cuộc trời lớn sắp tới không chỉ là tránh thuế 46% từ Mỹ, mà là cuộc cạnh tranh để giành lại quyền
kiểm soát chuỗi giá trị thực sự. Việt Nam phải chứng minh năng lực không chỉ sản xuất,
mà còn kiểm định, xác minh và điều phối toàn bộ chuỗi giá trị, điều kiện tiên quyết nếu muốn bước
vào hàng ngũ các nền kinh tế chủ động định hình luật chơi, thay vì bị áp đặt.
Nhưng nên nhớ, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của Chủ tịch Tập Cận Bình,
hai bên đã ký kết hơn 10 thỏa thuận hợp tác chiến lược, trong đó 5 thỏa thuận có liên quan trực
tiếp đến chuỗi cung ứng, xuất xứ hàng hóa và kiểm soát thương mại, những mắt xích nhạy cảm trong
cuộc chiến thương mại hiện tại. Đầu tiên là thỏa thuận hợp tác về cấp giấy chứng nhận xuất xứ
CEO. Hai bên cam kết phối hợp cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo chuẩn quốc tế,
đồng thời trao đổi dữ liệu điện tử trong thời gian thực giữa cơ quan hải quan và cơ quan
thương mại của hai nước. Về lý thuyết, thỏa thuận này giúp tăng tính minh bạch và hỗ trợ phòng
chống gian lận xuất xứ. Tuy nhiên nếu Việt Nam để hệ thống phụ thuộc quá sâu vào dữ liệu phía
Trung Quốc cung cấp, dù do bị coi là rán nhãn xuất xứ giả tạo cho hàng Trung Quốc sẽ tăng cao,
đặc biệt trong mắt Hoa Kỳ. Bên cạnh đó là hợp tác nâng cao năng lực logistics và quản lý
chỗi cung ứng, thỏa thuận với Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc về phát triển hạ tầng hậu
cần biên giới, bao gồm việc xây dựng hệ thống kho liên vận và cảng cạn phục vụ hàng hóa
trung chuyển. Đấy có thể là công cụ giúp Việt Nam nâng cấp hạ tầng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ
bị kiểm soát lưu lượng hàng hóa và định hướng thương mại sang Trung Quốc thay vì thị trường thứ
ba như Mỹ và EU. Tiếp theo là chuyển giao nền tảng công nghệ AI cho chuỗi logistics.
Huawei ký kết biên bản ghi nhớ với một số doanh nghiệp và cơ quan Việt Nam nhằm triển khai AI trong
quản lý kho bãi, giám sát vận hành container và tối đua hóa được vận chuyển. Vấn đề nằm ở chỗ,
một khi nền tảng công nghệ lõi được đặt nền móng bởi Trung Quốc, toàn bộ dữ liệu vận hành
và hành trình hàng hóa có thể nằm trong tâm kiểm soát của họ.
Rồi tài trợ tín dụng cho doanh nghiệp Việt Trung tại các khu kinh tế cửa khẩu. Ngân hàng xuất nhập
khẩu Trung Quốc hứa hẹn cấp một tỷ USD tín dụng ưu đãi để phát triển các khu logistics dọc biên giới.
Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, đây sẽ là bẫy tài chính khiến Việt Nam phụ thuộc cả về vốn,
công nghệ, lẫn định hướng thương mại theo kiểu chiến lược Trung Quốc.
Ngoài ra còn có thỏa thuận chia sẻ dữ liệu thương mại điện tử xuyên biên giới. Alibaba và
JD.com ký các thỏa thuận thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa Việt Nam qua các nền tảng thương mại điện tử Trung Quốc,
đồng thời đề xuất chia sẻ dữ liệu người dùng và hành vi giao dịch. Điều này tuy giúp tiếp cận
thị trường hơn một tỷ dân, nhưng đồng thời làm lộ điểm yếu về chủ quyền dữ liệu và thương mại nội địa.
Những kịch bản chiến lược sắp tới cho Việt Nam
Kịch bản thứ nhất đó là Việt Nam nghiêng hẳn về Mỹ. Nếu Việt Nam lựa chọn con đường rất khoát
khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc trong chuỗi cung ứng bằng cách từ chối các thỏa thuận gây lệ thuộc,
siết chặt kiểm soát CEO và ưu tiên tiếp cận FTA song phương với Hoa Kỳ,
thì khả năng được miễn thuế 46% rất cao. Tuy nhiên cái giá phải trả sẽ là phản ứng cứng rắn từ Bắc Kinh,
bao gồm cắt giảm nhập khẩu nguyên liệu, đình trệ thông quan, gây khó khăn trong đầu tư công nghệ
và gián tiếp can thiệp vào thị trường nội địa. Kịch bản thứ hai đó là Việt Nam giữ vị thế trung gian nước đôi.
Đây là kịch bản khả dĩ nhất trong ngắn hạn, nhưng rủi ro cao về dài hạn.
Việt Nam sẽ tiếp tục ký kết với cả hai bên, tránh thể hiện quan điểm thiên lệch,
đồng thời duy trì kiểm soát chặt các khâu nhạy cảm như là dữ liệu logistic,
nguồn gốc xuất xứ và đầu tư FDI. Tuy nhiên, nếu chỉ cần sai lầm ở trong kiểm soát hoặc là một
vụ kiện thương mại lớn từ Mỹ, thì toàn bộ vị thế này có thể bị sụp đổ.
Và kịch bản thứ ba đó là Việt Nam bị gán nhãn trung chuyển và Mỹ áp thế toàn diện.
Nếu quá trình thanh tra và điều tra từ phía Mỹ phát hiện bằng chứng rõ ràng về gian lợn xuất xứ
hoặc sử dụng công nghệ do Trung Quốc kiểm soát trong vận hành logistic, Việt Nam có thể bị áp
thế trừng phạt toàn diện lên các mặt hàng chủ lực như dệt may, điện tử, nội thất. Điều này sẽ không
chỉ gây tổn hại thương mại, mà còn đẩy lan sóng FDI chuyển hướng sang Indonesia,
Ấn Độ hoặc Mexico. Mặc dù có nhiều kịch bản khó khăn đang chờ đợi phía trước, từ khả năng
bị Trung Quốc gây sức ép đến rủi ro bị Mỹ áp thế trở lại, nhưng không có nghĩa là Việt Nam không có lối thoát.
Thực tế, chính chỉ thị ngày 15 tháng 4 của Bộ Công Thương có thể là một lối thoát mang tính định hướng
chiến lược, nếu được triển khai nghiêm túc và gắn liền với cải cách thể chế sâu rộng.
Chỉ thị không chỉ đơn thuần là một động thái hành chính đối phó với rủi ro trước mắt,
mà còn là bước đầu để Việt Nam tái khẳng định vị thế là một nền kinh tế độc lập,
minh bạch và có khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng của chính mình.
Trong bối cảnh cuộc cạnh tranh địa chính trị ngày càng phức tạp, đây là hành động cho thấy Việt Nam
không thủ động đứng giữa, mà đang chủ động kiến tạo vị thế cân bản. Do đó, giới phân tích nhìn nhận rằng,
chỉ thị ngày 15 tháng 4 là khởi đầu của một cuộc chơi lớn, nơi Việt Nam không chỉ phải chứng minh sự
tuân thủ kỹ thuật, mà còn cần định hình lại vai trò chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Muốn tránh bị áp thế, bị gán nhãn hoặc bị phụ thuộc, Việt Nam buộc phải xây dựng hệ thống
xác minh xuất xứ hoàn toàn minh bạch, độc lập khỏi dữ liệu Trung Quốc, tái cơ cấu lại chuỗi cung ứng
theo hướng nội địa hóa linh kiện và nguyên vật liệu, kiểm soát công nghệ chuỗi vận hành logistic
để bảo đảm chủ quyền dữ liệu, đàm phán FTA song phương với Mỹ trên nền tảng đối tác tin cậy chiến lược,
chứ không chỉ là đối tác sản xuất giá rẻ. Hoa Kỳ muốn thấy ở Việt Nam không chỉ là một nhà máy
gia công mới, mà là một đối tác tin cậy có khả năng tự chủ chuỗi cung ứng, bảo vệ dữ liệu
và đứng vững trước các áp lực từ Trung Quốc. Bởi vậy, chỉ thị ngày 15 tháng Tư có thể xem như phép thử
đầu tiên cho độ tin cậy chiến lược của Việt Nam. Tuyên bố của Tổng thống Trump và các quan chức
thương mại như là Peter Navarro gần đây nhấn mạnh rằng Việt Nam cần hành động cụ thể, không chỉ là cam kết.
Washington đang theo dõi các bước đi như kiểm soát dòng nguyên liệu từ Trung Quốc, loại bỏ các thực
thể công nghệ Trung Quốc ra khỏi chuỗi logistic, minh bạch hóa hệ thống cấp CO và dữ liệu xuất xứ,
tham gia FTA hoặc IPEF với lộ trình cải cách nghiêm túc. Nếu Việt Nam chứng minh được năng lực thực
thi độc lập, Mỹ không chỉ miễn thuế mà còn sẵn sàng hỗ trợ chuyển giao công nghệ,
nâng cấp logistic và tài trợ hạ tầng. Nếu không, Việt Nam sẽ bị xem là phần nối dài của Trung Quốc
và không quốc gia nào muốn hợp tác sâu với một bản sao Trung Quốc mờ nhạt.
Trong một diễn biến đáng chú ý khác, Sumitomo và SBI Holdings, hai tập đoàn tài trinh lớn của Nhật Bản,
đã thông báo sẽ mỗi bên mua 20% cổ phần tại FPT Smart Cloud Japan, đơn vị giám sát trung tâm
dữ liệu AI Nhật Bản của FPT. Đây là bước đi tiếp theo sau biên bản ghi nhớ vào cuối năm 2024,
khi SBI từng công bố kế hoạch mua đến 35% cổ phần. Đối với Việt Nam và vai trò trung tâm công nghệ,
nó có ý nghĩa rất quan trọng. Thứ nhất, khẳng định vị thế công nghệ Việt Nam tại thị trường cao cấp.
Việc hai tập đoàn Nhật đầu tư vào một đơn vị của FPT cho thấy Việt Nam không chỉ là trung tâm sản
xuất giá rẻ mà đã có năng lực công nghệ có thể cạnh tranh ở các thị trường tiến tiến.
Thứ hai là tăng uy tín FDI trong lĩnh vực AI và dữ liệu. Đây là một thông điệp mạnh mẽ rằng Việt Nam
đang nổi lên như một nền kinh tế số đáng đầu tư, không chỉ trong sản xuất mà cả hạ tầng AI,
đám mây và xử lý dữ liệu. Thứ ba là hỗ trợ chiến lược đa dạng hóa chuỗi giá trị và giảm lệ thuộc.
Khi Việt Nam bị kẹt giữa hai cực Mỹ chung, việc thu hút FDI từ Nhật trong lĩnh vực trung lập như AI,
giúp Hà Nội định hình vị thế trung tâm đổi mới sáng tạo độc lập trong khu vực.
Và thứ tư, đặt nền móng cho Việt Nam trở thành một trung tâm công nghệ khu vực,
với các khoản đầu tư vào điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu và AI, Việt Nam đang tích lũy năng lực
nền tảng cho nền kinh tế trí thức. Động thái này có thể mở ra làn sóng hợp tác sâu rộng với Nhật Bản,
Hoa Kỳ và các quốc gia OECD. Nhưng liệu Trung Quốc có để yên và Việt Nam có thể đối phó không?
Đây là một câu hỏi đáng lưu tâm. Thực tế thì khó có khả năng Bắc Kinh sẽ im lặng quan sát Việt Nam
trở thành một trung tâm công nghệ độc lập, đặc biệt khi mà xu hướng liên minh Việt-Nhật-Mỹ ngày càng rõ rệt.
Trung Quốc có thể phản ứng bằng ba hướng chính. Một là kinh tế, siết nguồn cung phần cứng và nguyên liệu.
Trung Quốc hiện cung cấp phần lớn thiết bị hạ tầng viễn thông, điện tử và linh kiện AI. Việc gián đoạn dòng cung
này có thể ảnh hưởng đến tiến độ triển khai trung tâm dữ liệu và hạ tầng AI của Việt Nam.
Hai là về chính trị, gây sức ép thông qua ASEAN hoặc các cơ chế khu vực. Bắc Kinh có thể vận dụng các
kênh ngoại giao để gây áp lực về tiêu chuẩn dữ liệu xuyên biên giới, yêu cầu minh bạch đầu tư
nước ngoài hoặc làm chậm tiến trình hợp tác công nghệ với các nước G7. Và ba là về địa chiến lược,
hỗ trợ đối thủ cạnh tranh của Việt Nam. Trung Quốc có thể đổ vốn vào Campuchia, Lào hoặc Indo
để xây dựng trung tâm AI đối trọng, từ đó làm suy yếu vai trò nổi bật của Việt Nam tại ASEAN.
Tuy nhiên Việt Nam có thể đối phó hiệu quả nếu có chiến lược bài bản, chẳng hạn như đẩy mạnh nội
địa hóa công nghệ và tăng cường tự chủ chuỗi cung ứng, giảm dân lệ thuộc và phần cứng từ Trung Quốc
thông qua liên kết sản xuất với Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ, xây dựng hành lang pháp lý, công nghệ rõ ràng
và minh bạch, qua đó thu hút các nhà đầu tư chiến lược, đồng thời giảm thiểu rủi ro bị thao túng qua
các cành pháp lý quốc tế. Đa dạng hóa đối tác chiến lược trong lĩnh vực dữ liệu và AI,
không đặt cực vào một nhóm quốc gia mà chủ động đàm phán với EU, Úc, Canada nhằm mở rộng
không gian công nghệ trung lập. Tăng cường vai trò của doanh nghiệp tư nhân công nghệ như FPT, Viettel, VNG,
các tập đoàn này có thể trở thành lực đẩy thực sự giúp Việt Nam đi đầu với AI, đám mây và điện toán biên.
Từ hai sự kiện chỉ thị ngày 15 tháng Tư của Bộ Công Thương nhằm ngăn chặn dân lệ thương mại
và khoản đầu tư chiến lược của Sumitomo và SBI vào FPT Smart Cloud, chúng ta có thể thấy,
không chỉ là những phản ứng riêng lẻ trước áp lực quốc tế, chúng là hai nhắt chạm đầu tiên trong
một quá trình định hình vai trò mới của Việt Nam trong chất tự kinh tế toàn cầu, hậu, toàn cầu hóa.
Từ chỗ bị coi là chạm trung chuyển rủi ro, Việt Nam đang từng bước chuyển mình thành một tác nhân có
chủ quyền, có khả năng quản lý chỗi cung ứng một cách minh bạch, đồng thời kiến tạo các năng lực
nền tảng trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và điện toán đam mê, những thành tố cốt lõi của quyền
lực kinh tế thế kỷ 21. Thách thức lớn nhất không phải đến từ bên ngoài, mà nằm ở khả năng duy trì thế
cân bằng chiến lược, với không bị rơi vào vòng xoáy kiểm soát của Trung Quốc, với không đánh mất tính
tự chủ khi hội nhập sâu với Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nền dân chủ công nghệ.
Muốn làm được điều đó thì Việt Nam cần ba yếu tố cốt lõi, đó là minh bạch thể chế và kiểm soát
chuỗi cung cấp độc lập, nâng cấp hạ tầng công nghệ, dữ liệu bằng chính năng lực nội sinh,
và liên minh hóa có chọn lọc, mở cửa với các nền dân chủ công nghệ nhưng bảo vệ chủ quyền số quốc gia.
Tương lai của Việt Nam sẽ không chỉ phụ thuộc vào thế quan, mà được định hình bởi việc Việt Nam
có thể trở thành một điểm neo công nghệ, thương mại, pháp lý đáng tin cậy trong khu vực hay không.
Mọi thứ mới đang chỉ là bước khởi đầu để Việt Nam bước ra khỏi vai trò trung gian,
tiến tới trở thành một trung tâm có tiếng nói và có năng lực trong ván cờ kinh tế, công nghệ toàn cầu.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay của chúng tôi cũng xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị chia sẻ quan điểm cá nhân ở phần dưới, chúng tôi luôn tôn trọng mọi sự khác biệt.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
