"Cách 2600 năm, Trước khi Đức Phật Thích Ca nhập niết bàn tại Thánh địa Kushinagar, ngài đã nói với các đệ tử của mình rằng: “Trong thế gian vô thường này chúng sinh không thể tránh được cái chết, giờ đã tới lúc ta phải ra đi. Nhưng đừng than khóc nữa, vì 12 năm sau khi ta nhập niết bàn, tại hồ Dhanakosha ở góc tây bắc của xứ Urgyan, sẽ có một đấng thông thái và đầy quyền năng sinh ra trong một đóa hoa sen. Người đó sẽ được gọi là Liên Hoa Sinh và Ngài sẽ tiếp tục rao truyền giáo pháp của ta. Và câu chuyện hôm nay của chúng ta là về vị Đại Bồ Tát này và các tiên tri chấn động của ông về thời mạt thế và về đức Phật Di Lặc. ----------------- Kênh Ngẫm Radio được lập ra với mong muốn chia sẻ với quý khán giả những kiến thức mới mẻ từ nhiều góc độ về những chủ đề như: dự ngôn, bí ẩn, lịch sử, tâm linh huyền bí cùng những câu chuyện nhân sinh cảm ngộ, khám phá thế giới. Hy vọng sẽ mang đến cho quý vị những phút giây thư giãn đầy ý nghĩa, đồng thời được truyền cảm hứng để luôn sống tích cực và thiện lương.
Hoan nghênh quý vị chia sẻ ý kiến, trải nghiệm và những khám phá của mình ở phần bình luận bên dưới để giúp chúng tôi cùng xây dựng cộng đồng yêu thích khám phá và chia sẻ kiến thức!
Để không bỏ lỡ những nội dung thú vị khác, hãy kết nối với chúng tôi qua: ✿ YouTube: www.youtube.com/c/NgẫmRadio ✿ Liên hệ và góp ý qua hòm thư: [email protected]
Chân thành cảm ơn quý vị và các bạn đã luôn đồng hành và yêu mến Ngẫm Radio! Chúc mọi điều bình an và tốt lành đến với mọi người! #NgamRadio#bian#tientri"
Lời tiên tri của Tổ sư Mật Tông đã ứng nghiệm.
Đấng Cụ Thế đã xuất hiện.
Bắc đầy hai nghìn sáu trăm năm trước khi Đức Phật Thích Cà nhập Niết Bàn
tại Thánh Địa Kushinagar, Ngài đã nói với các đệ tử cùng mình rằng
Trong thế gian vô thường này, chúng sinh không thể tránh được cái chết.
Giờ đã tới lúc ta phải ra đi.
Nhưng đừng thàn khóc nữa, vì mười hai năm sau khi ta nhập Niết Bàn
tại Hồ Danakosa ở góc tây bắc của Sứ Azean
sẽ có một đấng thông thái đầy quyền năng sinh ra trong một đoá hoa sen.
Cây đó sẽ được gọi là Liên Hoa Sinh và Ngài sẽ tiếp tục giao truyền giáo pháp của ta.
Và câu chuyện hôm nay của chúng ta là về vị Đại Bồ Tát này
và các tiên tri chấn động của ông về thời Mạ Thế và về Đức Phật Di Lạc.
Chuyên thuyết về Đại sư Liên Hoa Sinh
Tương truyền Đại sư Liên Hoa Sinh là một hóa thân của Phật Azi-đa.
Đại sư Liên Hoa Sinh là người nước Âu Trượng Na,
Udygan, tức vùng tây bắc Pakistan ngày nay.
Người nước Âu Trượng Na nổi tiếng là những tăng nhân vân du.
Tương truyền quốc vương Âu Trượng Na phát hiện một em bé truyền hoa sen trong hồ và nuôi dưỡng thành vương tử.
Sau này bị quốc vương chút địa vị vương tử, gài vào rừng sâu tu hành.
Ngài là tăng nhân của chùa Na Lạn Đà và tăng nhân vân du ở Ấn Độ thế kỷ thứ 8.
Sau này nhận lời Luận Sư Tị Hộ và tạng vương xích Tùng Đức Tán Lễ mời vào Tây Tạng sáng lập tăng đoàn,
được người đời sau gọi là Liên Sư.
Về sau, Ngài được chúng đệ tử sung kính, tôn là Phật Đà Thứ Hai.
Theo chuyện ký về Ngài, thì sau khi Liên Sư nhận lời mời, khoảng năm 750,
Ngài từ Ấn Độ khởi hành đến Tây Tạng Hoàng Pháp.
Dùng thần thông đánh đổ các thầy phù thủy, thầy mò của Đạo Bon và quỷ thần bản địa,
sáng lập nền ngôi chùa đầu tiên ở Tây Tạng, chùa Tăng Đà.
Từ đó, người dân Tây Tạng đã cài giáo sang Phật giáo chính thống.
Để kỷ niệm sự ra đời của Phật giáo Tây Tạng,
Liên Sư và Tịch Hộ xích Tùng Đức Tán được gọi là Sư Quân Tam Tôn, Ba Vị Tôn Sư.
Người ta còn gọi Ngài là Đạo Sư Quy Báu, Quỹ Phạm Sư Bảo hay Sư Tôn Bảo.
Điều đặc biệt là tất cả những lời dạy của Ngài đã được một đệ tử là Đức Bà Nhé Xô Giàn,
người quân chí nhớ kỳ diệu, ghi chép lại trong Kinh Thơ Mở, Mật Điển Cất Dấu.
Cuốn sách này được cất dấu và chỉ được hậu thế tìm thấy cách đây khoảng 500 năm.
Trong đó có những đoạn tiền trì về thời Mặt Pháp, tức thời đại ngày nay.
Khi Vua Chi Sông Đét Sơn của Tây Tạng hỏi về thời Mặt Pháp, Đức Liên Hòa Sinh đã trả lời rằng
Đến thời Mặt Pháp, suy tăng vô đạo, Mặt Pháp suy tàn, con đường sa đoạ lan rộng,
tuổi thọ con người giảm, bóng tối dày đặc hơn.
Nhưng khi người ta còn nghe lời Phật, còn theo đạo Pháp thì vẫn còn một chút ánh sáng.
Cuối thời hạc ám, tuổi thọ con người từ 65 giảm xuống còn 55.
Tính vị kỷ gia tăng, đạo đức suy đổi, con người trở nên tàn bạo.
Đại Bảo Tháp, biểu tượng cho tiến tâm đối với Phật Pháp, bị hủy hoại.
Người tại ra vào chùa gây xung đột trước bàn thờ, chùa triền biến thành nơi sát sinh.
Các ẩn tù trở về cây ruộng, các bậc thu hành bỏ đạo đi buôn.
Kẻ trộm cướp thì giao có, tù sĩ trở thành người thế tục.
Con sư trưởng biến thành kẻ cướp.
Giã hội hỗn loạn lan nhanh như lửa cháy rừng.
Người hư hỏng và vị kỷ trở thành lãnh tụ.
Sư trưởng trở thành tướng quân, nữ tu giết bò con hoang của mình.
Có những người phải chứng kiến cảnh cơ nghiệp và gia sản của mình bị cướp đoạt.
Bọn Mỹ dân ác độc và thồ lỗ trở thành các lãnh đạo địa phương.
Còn các cô gái thì dạy trẻ con ở các trường học.
Phủ Thủy Bon lớn tiếng đến nỗi thiền giả trong am thất cũng nghe thấy và các đền chùa bị cướp bóc.
Ngài cũng tiên tri rằng các đền chùa bị cướp phá, tượng Phật kinh Phật bị đốt hoặc đem bán ngoài chợ.
Người ta quên mất giá trị thiêng liêng của Phật Pháp, biến chùa thành chuồng trâu chuồng ngựa.
Khi tâm suy đổi, má quỳ vốn bị kiêm chế bởi nghi lễ sẽ được thả lòng.
Nhập vào thân xác con người điều khiển tâm trí mà dèo rác hỗn loạn.
Những lời tiên tri ấy còn biểu tả rằng tù sĩ mặc y phục kỳ lạ, nữ tù trang điểm chưa cương.
Mọi người đều mang vũ khí tự vệ, nghi ngờ nhau vì sợ bị đau độc.
Chính giáo và tà giáo bị đào lộn, bọn say rượu thuyết giảng, bọn gian tà hoặc áo tù sĩ.
Người ta chạy theo tà kiến, coi thương giới luật, bỏ quên giáo lý chân chính của Đức Phật.
Tất cả những cảnh tượng ấy được biểu tả như điềm báo cho thời kỳ suy đổi,
khi lòng người rời xa chánh đạo và xã hội chìm trong hỗn loạn.
Đúng với khái niệm mạt pháp mà Đức Liên Hòa Sinh từng cảnh báo.
Khi người ta quên bổn phận tôn giáo thì má quỳ vốn bị kiêm chế bằng các nghi lễ
sẽ được thả lòng, làm loạn và điều khiển tâm trí của người nào mà chúng nhập.
Má thủ địch nhập vào các tù sĩ.
Má vị kỳ, độc ác nhập vào các hành giả mật chú và các phù thủy.
Má bệnh tật nhập vào các đạo sĩ bọn.
Má gây bệnh nhập vào đàn ông.
Má cãi cọ nhập vào đàn bà.
Má lạ lời nhập vào các cô gái.
Má hư hỏng nhập vào các nữ tu.
Má phá dối nhập vào trẻ con.
Mọi người đàn ông, đàn bà, trẻ con trong xứ
đều bị lực lượng hát ám được thả lòng nhập vào.
Dấu hiệu của thời này là kiểu y phục mới kỳ lạ.
Kiểu quần áo cũ kỹ bị bỏ quên.
Các tù sĩ mặc kiểu áo mới lạ.
Còn các nữ tu thì sửa sang trước tấm gương.
Mọi người đều phải mang gươm để tự vệ
và ai cũng canh chừng để thức ăn của mình không bị bỏ thuốc độc.
Sư trường và thầy làm ô nhiễm tâm trí các đệ tử của họ.
Nhà cầm quyền và các pháp quan không đồng ý với nhau.
Khi chim sát bay trên không trung,
thức máy bay, ngựa sát chạy trên đất,
thức tàu hòa và xe hơi thì đó là thời đại mặt Pháp đến.
Lúc đó mặt Pháp của Phật giáo sẽ hưng thịnh và hồng truyền khắp thế giới.
Ở thời mặt Pháp này toàn thế giới sẽ xuất hiện tình hình như thế này.
Vua không giống vua.
Bề tôi không giống bề tôi.
Cha không giống cha.
Con không giống con.
Cha con như bạn bè.
Phụ nữ không giữ trình tiết.
Đàn ông dâm dục không kiềm chế.
Rất nhiều hiện tượng triệu chứng mặt Pháp của Phật giáo đều xuất hiện.
Liên Sư lại tiên tri rằng.
Rất kỳ diệu.
Xe thời kỳ đó không cần ngựa kéo.
Tự nó có thể khỏi động chạy.
Rất kỳ diệu.
Thành tiếu điên thời đó tại sao không cần xòi sừng trâu dưới chân
mà lắp bánh xe trượt đi trượt lại.
Rất kỳ diệu.
Mọi người thời đại đó không phải ra khỏi nhà.
Hàng ngày chỉ cần ngồi đó nhìn vào cái gương nhỏ
lên biết chuyện thế sự trong tiền hạ.
Hơn nữa, còn có thể thông tin tức cho nhau.
Thật là thần kỳ.
Đây chẳng phải điện thoại di động trên tay chúng ta đó sao?
Có lẽ, xem đến đây,
mọi người đều rõ
xe hơi, ván trượt,
màn hình tinh thể lòng,
điện thoại di động
đều là những thứ người hiện đại rất quen thuộc.
Về các chúng sinh thời kỳ mặt Pháp,
Liên Sư nói,
thời đại đó sẽ có phụ nữ tren ngang vào giữa vợ chồng
hay người thứ ba.
Con cái bất hiếu đuổi cha mẹ ra khỏi nhà.
Anh em đánh nhau vì gia sản,
tạo cả năm loại nghiệp mà không có tâm sấu hồ.
Lời dạy của Phật Đà dần dần bị mai một mất đi.
Giữa người thân thích có xuất hiện loạn luân.
Có rất nhiều người chim đắm trong cửa bạc.
Người nghiện cả ngày nuốt khói nhà khói.
Người nghiện rượu say đám tham bôi.
Tượng Phật Pháp Khí lưu lạc nơi đầu đường quối phố
trở thành hàng hóa.
Có rất nhiều người đem báu vật ông bà tổ tiên truyền lại
bán cho người nước ngoài.
Do chặt phá rừng tràn lan
khiến đất mau cuốn bất
dẫn đến thiên tài liên tiếp xuất hiện.
Trong thành phố trộm cắp nổi lên khắp nơi.
Người ăn xin khắp các thành phố.
Có rất nhiều người chết trong chiến tranh.
Chính Giáo và Tà Giáo
Đại Sư Liên Hoa Sình còn tiêng chi rằng
Vào thời mặt Pháp
bọn say rượu thuyết pháp về sự cứu rỗi.
Bọn Mỹ dân được người ta nghe theo.
Các vị thầy giả mạo truyền tâm ấn giả dối.
Bọn lừa bịp khoe là có thần thông.
Tài hùng biện được coi là trí huệ.
Bọn kiêu ngạo để cao phàm tục.
Bọn hạ tiện cai trị vương quốc.
Các vua chúa trở thành người nghèo.
Bọn đồ tề và bọn giết người trở thành thủ lĩnh.
Bọn tham vọng tiến thần thô lỗ leo lên vị trí cao.
Các vị thầy của nghì quỹ cao cấp chạy dòng như chó ngoài đường.
Còn các đệ tử của họ thì không có tín tâm
cũng đi lang thang như sư tử trong rừng.
Những người hiện thần của độc ác và vị kỳ
được kính chọn như các vị thầy.
Trong khi sự thanh tựu của các vị thầy mật giáo
thì bị nói xấu.
Lời dạy của đạo sư bí mật bị coi là tà đạo.
Giáo lý của Đức Phật bị bỏ quên.
Lời khuyên của các thiên giả và các thánh nhân bị làm ngơ.
Bọn ngu ngốc và bọn doan tà mặc áo tù sĩ.
Còn các tù sĩ mặc y phục của ngoại nhân.
Bọn sát nhân cũng mặc áo ca xa.
Những người tìm ma thuật học mật chú vì mục đích vị kỳ.
Tù sĩ chế thuốc độc để bức hại người khác và để trục lợi.
Giáo lý tà quỵ được tạo ra từ lời Phật
và các vị thầy diễn giả kinh điển để tự đề cao.
Người ta đi theo những con đường nguy hiểm chưa được biết trước đây.
Nhiều lối thu hành gian tà đan rộng.
Những hành vi vốn được coi là xấu xa thì lại được dung dưỡng.
Những tư tưởng mới trái ngược với phòng thuộc cũ.
Những tục lệ tốt bị từ bỏ.
Những lối sống mới đáng khinh làm hư hỏng con người.
Tài sản của đền chùa bị cướp đoạt và bị những người đã thọ dối tiêu phí.
Đi theo đường tà, con người bị kẹt trong chính những hành động xấu của họ.
Những người bảo hộ giáo lý thuần túy thì lại tham lam.
Giả dối, không làm tròn bồn phận của họ nữa.
Thiên tai nhân họa, bệnh tật chẳng làm.
Thiền lấy bị đào lộn, gây ra dịch bệnh, nạn đói và chiến tranh
để làm khủng hoảng đời sống thế gian.
Các tình thú hỗn loạn, những ngôi sao rơi khỏi các tròm sao.
Những ngôi sao lớn bốc cháy xuất hiện, mang lại tai họa không thể lường trược được.
Mưa rời không đúng mùa mà cháy mùa.
Các thùng lũng bị ngập lụt.
Nạn đói, sơm giá và mưa đá gây mất mùa nhiều năm.
Các bệnh dịch khủng khiếp lan tràn như lửa cháy rừng,
làm hại cả người lẫn ra súc.
Những trận động đất gây nạn lột bất cờ.
Trong khi lửa, bão và gió lốc tàn phá đền chùa,
tháp và các thành phố trong khoảnh khắc.
Trong cảnh đen tối này, phạm luận ở Vai-ra-sa-na,
Bồ-đê Đạo Tràng, không hoạt động nữa.
Chiến tranh tàn phá Nepal trong nhiều năm.
Ấn Độ gặp nạn đói.
Thùng lũng Kathmandu bị bệnh dịch hoành hành.
Động đất tiêu diệt dân sứ Nga Rì Thượng ở miền Tây Tây Tạng.
Bệnh dịch hủy diệt dân miền Trung Tây Tạng.
Quận Thùng lũng Khi của thủ đô La-sa vẫn tồn tại.
Các đình của hy mã Lạp Sơn ở biên giới sứ Mon bị đổ xuống các thùng lũng.
Các chùa lớn ở sứ này bị bỏ hoang.
Và tiếng ợ của đạo sĩ Bon vang trong các am thất yên tĩnh.
Các vị lãnh đạo khồn ngoan hay chất phác của các tu viện
đều bị đầu độc làm cho việc diễn giải và tu hành truyền thống
bị phân tán hay mai một.
Những người bảo tồn truyền thống bị chết đột ngột.
Bộ giả dối lừa gạt người dân và những bóng ba đen ám ảnh xứ sờ này.
Núi trì tờ thiêng trói buộc các lực lượng ma quỳ bị tháo ra
và sợi dây tín tâm giữ tâm trí con người Hoa Hập bị cắt đứt.
Luật lệ của vua bị phá và sức mạnh của sự hợp nhất xã hội bị diệt.
Phòng tục của dân bị chối bỏ và biển An Lạc bị khô cạn.
Đạo đức con người bị bỏ quên và ca áo khiêm tốn bị lượng bỏ.
Người đức hạnh thì bất lực và bị hạ nhục.
Chịu sự sai khiến của những người cai trị thổ lỗ, kiều ngạo, đáng sợ.
Các thủ sĩ và thầy giáo trở thành sĩ quan quân đội.
Còn kẻ ngù rốt thì lại hướng dẫn người có đạo tâm,
thuyệt giảng giáo lý và chuyển tâm ấn.
Tiến đồ nói xấu người khác để tự biện mình.
Trong khi đồ tể và voi hoang dẫn dắt người ta.
Những lời tiên tri này của Đại sư Liên Hoa Sinh
ứng với ngày nay quả là những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Tuy nhiên trong nơi tầm tối nhất thì Thượng Đế vẫn không bỏ rơi nhân loại.
Khi Đạo sư Liên Hoa Sinh cũng có lời tiên tri giống với lời giảng của Đức Phật Thích Ca 2.500 năm trước.
Rằng nhân loại sẽ được cứu rỗi.
Hóa ưu đàm bà La sẽ khai nở là báo hiệu sự xuất hiện của đấng cứu thế.
Ngài có trí lực lớn và sẽ thấy rõ những gì mình sẽ làm trong đời.
Do nhận thức bí ẩn hay rõ rệt trong các kiếp từ khi Ngài phát nguyện.
Ngài sẽ tái sinh với tín tâm coi tam bào là an lạc vĩnh hàng.
Tôn kính trách vụ của giáo hội.
Và thành tâm với sự thiền liêng của thân, khẩu, ý.
Là người đại thừa, Ngài có tâm tử bi đối với loài người.
Cũng như các sinh vật và sự bố thí của Ngài về thân, khẩu, ý là vô tận.
Với trí huệ về chân không an lạc của bàn thề các Pháp.
Ngài quan thông Phật hạnh bạo động và sự biểu lộ hung giữ của các hộ Pháp phẫn nộ.
Nguyện giải trừ sự thống khổ này.
Vị tuần cừ với lục an lạc của ta.
Với tâm tử bi đối với chúng sinh.
Không nghĩ tới thể xác, sự sống và hạnh phúc của riêng mình.
Hồi phục dũng mạnh bằng sự phẫn nộ thiền liêng.
Ngài hướng dẫn và củng cố sức mạnh cần thiết cho người dân ở các xứ biên giới.
Khi tiếng nói đức hạnh của những người lưu vong đã hợp nhất.
Thì những người bạn của vị nhân này bắt đầu cùng nhau ra sức phục hồi Đại Bảo Thác.
Nhưng những quyền lực hác ám quái đàn đã dụ dỗ mọi người làm những điều tội lỗi.
Chỉ có ít người tôn dùng và tin tưởng vị tuần cừ.
Những người này ít như sao buổi sáng.
Tuy nhiên, vị nhân này cũng có 130.000 tín đồ đạo hạnh.
106 đạo sư uyên thâm.
88 thiên giả thành tâm chỉ giới.
80 thí chủ rộng rãi, không keo kiệt.
23 nhà tiên tri.
8 giáo sư hóa thân của 8 Bồ Tát.
25 đệ tử sung tín.
5 Dakini, nữ thần hóa thân.
Và 25 thiếu nữ thuộc các gia đình cao quý.
Tiếp xúc với họ, ngại thanh lọc tâm chí ô nhiễm của họ.
Và dọn sạch chướng ngại trên đường đạo của họ.
Tất cả những người nào ra tay phục hồi Đại Bảo Thác.
Sau 3 lần tái thức tình.
Sẽ thái sinh làm người hay thần.
Thanh tĩnh để nhận cam lộ giáo pháp.
Và rốt cuộc sẽ đắc Phật quà ở cõi Tây Phương Cực Lạc.
Tất cả những người nào cùng với Đấng Vĩ Đại.
Thì hành việc phục hồi Đại Bảo Thác.
Dù có ý thức về ngại hay không.
Dù tiên tưởng và tôn sủng hay không.
Đều sẽ đạt thành tựu tối thượng.
Và quyền năng tâm linh vào cuối kiếp làm người thế gian.
Quý vị có thấy không?
Lời tin chi của 2 Đức Phật đã ứng điệm rồi.
Những bồng hoa ưu đàm Bà La.
Hiện giờ đã khai nở khắp nơi.
Phải chăng Đấng Cụ Thế đã có mặt tại nhân gian.
Và đang cứu đội chúng sinh rồi.
Quyền 4 Kinh Pháp Hoa Văn Cú viết rằng.
Ưu đàm hoa có nghĩa là may mắn linh thiêng.
3.000 năm mới nở một lần.
Khi nở là Kim Luân Vương xuất hiện.
Kinh Phật cũng ghi lại rằng.
Đức Chuyển Luân Thánh Vương là vị vua lý tường.
Người sẽ cai trị thế giới không phải bằng vũ lực.
Mà bằng công lý.
Những ai dùng thiện để đối đải với người khác.
Sẽ có cơ hội gặp Đức Chuyển Luân Thánh Vương.
Bất kể người đó thuộc tôn giáo nào.
Phật giáo.
Cơ đốc giáo.
Khổng giáo.
Hay một tiếng ngưỡng nào khác.
Hy vọng rằng.
Tất cả chúng ta sẽ sớm tìm thấy Trần Pháp.
Và được cứu đội như những gì.
Mà các bậc giác già đã giữ ngôn.