Tham Một Đồng Trói Cả Đời Buông Một Niệm Phước Báu Trào Dâng

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Trong đời có những thứ ta cố giữ thật chặt lại chính là thứ chói buộc mình suốt kiếp.
Và có những thứ ta lỡ buông ra một lần lại mờ ra cả vận may mà suốt đời không dám mơ đến.
Giữ là bản năng, nhưng buông mới là trí tuệ.
Câu chuyện hôm nay sẽ kể cho các bạn chiêm nghiệm về vấn đề trên.
Thừa ấy, ở vùng Tứ Châu có một người tên là Trình Khắc Phác.
Họ Trình vốn dòng buôn bán, cha để lại trong một tiệm tạp hóa nhỏ, dần ra mờ rộng thành một cửa hiệu lớn giữa chợ huyện.
Người ngoài thấy Trình Khắc Phác ăn nói nhỏ nhẹ.
Lúc nào cũng mặc áo vải nâu, sống kham khổ như kẻ nghèo.
Ai nấy, tưởng người hiền đức.
Nào ngờ, đó chỉ là vỏ ngoài che lấp lòng tham vô đáy.
Từ thúng dao đến sợi chỉ, gã cũng so đo tính từng ly, ép người bán đến kiệt lời mới chịu bớt vài đồng.
Bọn trẻ bán hàng dòng gọi lén sau lưng là Trình Kiệm Cứng, ý chỉ cái bụng keo kiệt đến mức sắt đá.
Gã có câu cửa miệng, đồng nào ra khỏi tay, phải đẻ cho ra lời.
Ngay cả với mẹ ruột, gã cũng giữ chặt từng đồng.
Cụ bà tuổi đã 70, muốn ăn chén chè đậu đen cũng phải xin.
Khi mẹ mất, gã chỉ làm đám tăng, cúng đơn sơ, mượn tạm bài vị ở miếu rồi đem trả.
Hỏi sao không làm lễ lớn, gã đáp tỉnh bơ.
Người sống mới cần ăn, người chết cần gì sôi trẻ.
Một năm nọ, huyện có lễ hội Chùa Pháp tỉnh, ngôi cổ tự nằm giữa rừng thông, nổi tiếng linh thiêng.
Dân tứ xứ đổ về đông như chảy hội, ai ai cũng mang theo lễ vật.
Kẻ thì chuối cao, người thì nhang đèn, kẻ khá già hơn thì sắm sửa vàng mã tiền công đức.
Trình khắc phác ban đầu chê bài, bảo lễ vật là mê tín, cho tiền chùa chẳng bằng cho vốn buồn.
Nhưng khi thấy người ta khá lên sau mỗi lần lễ bái, buồn may bán đắc, gã lại đổi ý.
Hôm ấy, gã mang theo một nắm tiền lẻ để cúng lấy lệ, hòng cầu lộc.
Trong lúc chen lẫn, vô tình gã lẫn tay bỏ nhầm một đồng bạc lớn, đồng tiền được giữ riêng trong bọc vải, xưa kia là của cha để lại.
Vừa buông tay, đồng bạc rơi vào hòm công đức cái cạch, gã sững người.
Vội vã chen vào, gã đòi sư trụ trì cho thọ tay vào hòm lấy lại.
Sư cụ cười nhẹ, công đức là tâm, tiền vào rồi là của phận.
Lấy lại tức là chưa xả, chưa xả thì không có phước.
Trình khắc phác mặt đỏ phừng phừng, nhưng bị bao người nhìn chầm chầm, đành ngậm đắng nuốt giận mà lui ra.
Về đến nhà, gã ngồi than suốt ba ngày.
Trong lòng không cam nát, gã toan hôm sau quay lại.
Nửa đêm lèn vào chùa để cậy hòm lấy lại bạc.
Nhưng đúng lúc ra khỏi ngõ, trời nổi sấm xét, gió hú ào ào như quỷ khóc.
Con chó nhà gã tự dưng trù vang rồi lăn ra chết không rõ nguyên do.
Gã sợ quá, run cầm cập, ngã quỷ ngay đầu ngõ.
Từ đó không dám bén mảng tới chùa nữa.
Năm tháng qua đi, trình khắc phác tiếp tục làm ăn tiền của chất đầy nhà.
Nhưng lòng vẫn cứ thấp thỏm nhớ về đồng bạc năm xưa.
Trong tâm gã, chưa từng xem đó là của bố thí.
Mỗi lần mở tủ bạc, gã lại lầm bầm.
Thiếu mất một đồng, thiêng lắm là tiền trường tộc truyền lại mà.
Một năm nọ, vùng Tứ Châu gặp đại hạn, giếng khô cạn, ruộng nứt chân chim.
Dân làng bán nhau đào giếng mới cạnh gò đà,
nơi có cây đa cổ mấy trăm tuổi, tán rộng che cả một khoảnh đất.
Trình khắc phác nghe thế thì mừng rỡ,
vì gò đa nằm sát bên mảnh vườn hoang do cha để lại.
Lâu nay, gã bỏ không vì cho là đất xấu,
gã quyết mở giếng riêng, lấy cớ cấp nước cho nhà mình trước,
nhưng thâm ý là đào sâu lấy nước dùng bán lại.
Nhờ mướn bọn phu lành nghề,
chẳng mấy chốc giếng đào được gần trăm thước,
thì quốc chạm phải vật cứng.
Đào lên, lộ ra miệng một chùm cổ,
bị dễ đa ôm chặt.
Lớp đất quanh chùm rắn như đá,
đào mãi mới nhích được vài phần.
Trình khắc phác mừng rỡ, tưởng gặp kho báo.
Gã vội đổi phu, sai kín miệng,
tự mình gỡ dễ, lau chùm.
Trên nắp chùm có khắc hàng chữ nhò,
chỉ người buông tham mới mở được.
Lúc đầu, gã chẳng để tâm, cho là lời phù phép.
Gã gọi thợ dùng sà beng cạy nắp,
nhưng dù dùng sức mấy cũng không nhúc nhích.
Đem đục sắt tới phá, lưỡi gãy vụn.
Gã toan cho người mang về nung nấu,
nhưng lạ thay, cứ chạm tới miệng chùm là xảy chuyện.
Người thì chật tay gãy xương,
người thì ngất xỉu không lý do.
Mỗi lần gã toan làm gì đó sai trái,
đều gặp trắc trở kỳ lạ.
Tối đến, gã nằm mơ thấy một láo ôm dâu bạc,
tay cầm trượng, đứng bên chùm vàng mà nói,
kho báo này là lọc trời, khóa bởi tâm người,
chỉ khi lòng sạch tham của mới tự mở.
Trình khắc phát troàng tỉnh, mồ hôi lạnh ướt áo,
nhưng cái bản tính cố hữu khiến gã vẫn không tin.
Gã tìm mọi cách, thuê pháp sư, thầy phù thủy,
người thì cúng bái, kẻ thì đọc chú.
Có hôm cả nhóm dựng đàn giữa đêm, khấn vái quanh chùm.
Đến canh ba, trời độ mưa rào, sấm chớp liên hội.
Một tiếng rắc vang lên, cây đa xét đánh gãy một cảnh to,
suýt đẻ chết pháp sư.
Từ đó, không ai dám bén mảng.
Câu chuyện về chùm vàng bị khóa, lang khắp vùng.
Người dân kháo nhau đó là bảo vật của trời, có thần giữ.
Nhiều người tò mò tới xem, có người quỳ lại, có người cúng bái.
Nhưng tuyệt nhiên không ai mở được nắp.
Một ông lão bán trẻ rong nọ,
vốn là người từng tu ở chùa Pháp tỉnh, đi qua bèn dừng lại ngắm chùm.
Ông ta nhìn rồi khẽ lắc đầu.
Kho báo chẳng nằm trong chùm, mà nằm trong lòng người.
Trình khắc phát đứng gần nghe được, lòng trợt rung động,
nhưng lý trí lại gạt đi.
Gá vẫn không tin cuộc cải có thể mở bằng lòng tốt.
Thế nhưng, đêm đó, Gá lại mơ thấy người cha quá cố về báo mộng.
Người cha hiện về trong khói mở, rọng khan mà gió.
Đồng bạc cúng chùa năm ấy, chính là chìa khóa kho báo.
Nhưng chỉ khi con biết buông tay, trời mới ban lại.
Gá tỉnh dậy, lòng như có gai châm, đi đi lại lại cả đêm không ngủ.
Từ đêm nằm mộng thấy cha, trình khắc phát cứ như người mất hồn.
Mỗi lần nhìn về phía chum vàng dưới góc đa, Gá lại thở dài.
Nhưng chỉ thoáng sau, ánh mắt tham lam lại rực lên.
Gá bắt đầu lập kế mưu mới.
Không phá được bằng sức, thì dùng mưu đoạt bằng trí.
Gá thuê thợ gò một bộ khóa giả, định thay nắp thật bằng nắp giả,
rồi mở để đánh lừa thiên hạ.
Nhưng kỳ lạ thay, cứ hễ người thợ đến gần,
là trong chum vọng ra tiếng động lạch cạch như có ai gõ vào.
Có lần thợ gò tay vừa chạm vào nắp,
nắp chum tự phát ra luồng hơi nóng phả vào mặt, bỏng rát cả tay.
Người thợ sợ quá vứt đô bỏ chảy.
Trình khắc phác tức giận đập bàn, mắng thợ hèn nhát,
nhưng chính bản thân Gá cũng không dám chạm tay trần vào chum nữa.
Vậy là Gá ra lệnh xây một lều tranh quanh góc đa.
Trông coi ngày đêm, hãy có ai đến gần, lập tức bị xua đuổi.
Cái chum ấy, từ vật hiếm có dần biến thành món của cải ám ảnh,
không ngủ cũng chẳng yên.
Một hôm, có kẻ giang hồ từ phương xa ghé chợ huyện, tự xưng là Lục Tật,
người từng mở khóa trong kho báo chuyên giải bùa chú cổ xưa.
Gá ăn nói hoạt bát, miệng như giót mật, vừa nghe chuyện đã cười khẩy.
Chò trẻ con, một cái nắp sành, không mở được thì phá.
Thứ gì không phục người thì phải khuất phục bởi người.
Trình khắc phác nghe thế như mở cờ trong bụng, bèn dốc bạc thuê Lục Tật thử sức.
Gá kia mang đủ thứ đồ nghề, từ búa gỗ, khoan thép đến rượu phép, giấy bùa.
Hắn cắm lều ba ngày ba đêm, giải trấu bốn phía, vẽ bùa kín nắp chùm rồi niệm chú lớn tiếng.
Nhưng đến đêm thứ ba, tiếng chú bỗng ngưng bật.
Người gác lều phát hiện Lục Tật đang co giật, mắt trợn ngược, miệng u ớ không thành lời.
Đưa về quán trỏ, thì sáng hôm sau hắn đã hóa điên, suốt ngày chỉ biết gào lên.
Mắt vàng, mắt vàng trong chùm đang nhìn tà.
Cả huyện Tứ Châu sững sở. Trình khắc phác thì chết lặng.
Từ hôm đó, gá không dám bén mảng tới chùm nữa, chỉ sai đầy tỡ canh chừng từ xa.
Gá ăn ngủ trong lo sợ, mặt hốc hát, đầu bạc nhanh như người giả.
Có đêm đang ngủ, gá bật dậy gào lớn.
Không phải của ngươi, là của ta. Ta mới là người kế thửa.
Tin đồn lan rộng. Có người bảo đó là mộ cổ, có người nói là bẫy của yêu ma.
Nhưng đa phần lại tin rằng đó là phần thưởng của trời, chỉ ban cho người thật sự xứng đáng.
Câu khắc trên nắp chùm trở thành câu nói cửa miệng của dân chợ.
Chỉ người buông tham mới mở được.
Vào một buổi sớm mùa thu, khi lá đa vàng úa dụng lạ tả như cánh thư trời,
có một đứa bé ăn mẩy, gầy nhòm, ghé ngang qua lều.
Đứa bé khoảng bảy tám tuổi, mặt mũi lem luốc, tay ôm em nhỏ mới sinh, đói là người.
Nó đứng xa xa, run run ngó vào cái lều tranh, thấy chùm vàng, ống ánh dưới ánh nắng sớm, thì mắt sáng dỡ.
Nhưng rồi lại quay sang đứa em, nhìn bộ quần áo rách te tua, nó chỉ thở dài.
Đứa bé không dám xin gì ở trình khắc phác.
Người nổi tiếng lạnh lùng bậc nhất vùng.
Nó quay lưng đi, nhưng vừa đi được vài bước, thì nghe sau lưng có tiếng gọi khàn khàn.
Ê, nhóc con, mày nhìn cái chùm đó làm gì?
Thằng bé giật mình, líu díu đáp.
Dạ, cháu tưởng đó là chùm nước.
Em cháu khát phác, nhìn hai đứa trẻ, gương mặt khắc khổ, trong lòng trợt có gì đó dung nhẹ.
Nhưng rồi gã nhanh chóng quay mặt đi, bảo một tên đầy tớ đuổi đi.
Tối hôm ấy, trời đổ mưa to.
Sấm dền giật đùng đoạn, cây đa bị gió quật dụng thêm mấy nhãnh lớn.
Trình khắc phác lại mộng mị.
Lần này, không phải cha, mà là một vị tăng nhân dâu bạc mặc áo cả xa, đứng trước chung vàng mà nói.
Ngươi đã có chìa khóa trong tay từ lâu, nhưng lòng ngươi còn khóa, thì mọi khóa khác đều vỗ ít.
Rồi nhà sư đưa tay, trong lòng bàn tay là chính đồng bạc lớn năm xưa,
đồng bạc gã lỡ tay bỏ vào hòm công đức ở chùa Pháp tỉnh.
Trình khắc phác sực tỉnh.
Mồ hôi đầm đỉa, tay run run sờ vào ngược áo, chỗ thường đựng túi bạc.
Giờ rỗng không?
Gã bật dậy, lao ra ngoài mưa, đến trước chung mà quỳ xuống.
Tôi, tôi không muốn giữ nữa. Nếu đây là lọc trời, thì xin ban cho người xứng đáng hơn tôi.
Gã lầm nhầm lời như nói cho chính mình nghe.
Nhưng chẳng có gì xảy ra.
Nắp chung vẫn im lìm.
Cái lạnh của cơn mưa đêm thấm vào tận xương cốt.
Trình khắc phác lào đảo quay về.
Cả người ướt sụng như kẻ hành khất.
Từ đêm ấy, gã bắt đầu đổi khác.
Sáng hôm sau, gã cho gọi đầy tớ.
Lấy ra một hòm tiền bạc.
Đích thân đem tới chùa Pháp tỉnh.
Đặt trước cổng mà không nói lời nào.
Khi trụ tri ra hỏi, gã chỉ cúi đầu lại ba lại rồi bỏ đi.
Sau đó, gã rào quanh huyện, âm thầm giúp đỡ người nghèo.
Gã chuộc ruộng bị cầm cố của một bà lá quá bụa.
Tài trợ sửa mái đình bị rột, mở kho phát cháo mỗi sáng cho kẻ lang thang.
Người dân ban đầu ngỡ gã bị điên.
Nhưng sau rồi cảm mến, mấy đứa trẻ bán hàng rong từng bị mắng chửi.
Nay được gã gọi vào quán cho ăn bánh, phát áo ấm.
Tuy vậy, suốt mấy tháng gióng vòng, nắp chum vẫn không hề nhúc ních.
Gã không nhắc gì tới kho báo nữa, mà chỉ chuyên tâm làm việc thiện.
Nhưng tận sâu trong lòng, gã vẫn đau đáo một nỗi.
Chừng ấy có đủ chưa?
Một chiều nọ, gã đi ngang qua chợ huyện.
Chợ thấy một bà cụ đang ngồi khóc trước cửa nhà trò.
Gã dừng lại hỏi chuyện, mới biết bà cụ quê tận Tam Phổ.
Lên huyện tìm đứa cháu thất lạc, nhưng hết tiền ăn, ngủ vạ vật nhiều ngày.
Gã động lòng, bèn đưa bà cụ về nhà mình nghỉ tạm.
Cho ăn uống, lại nhờ người dò hỏi khắp nơi.
Một tuần sau, tìm được cháu bà cụ.
Không ai khác, chính là thằng bé ăn mày ôm em năm ấy.
Gặp lại gã, đứa trẻ ngập ngừng không dám nhìn thẳng, nhưng ánh mắt long lanh cảm kích.
Bà cụ bật khóc, ôm gã mà lạy.
Ân nhân cứu cả nhà tôi, xin khắc cốt ghi tầm.
Đêm hôm đó, mưa rơi nhẹ.
Trình khắc phác ngồi dưới mái hiên, nhìn về phía chung vàng.
Không hiểu sao, lòng gã lại nhẹ như lá rơi.
Gã khẽ khép mắt lại, và từ phía gò đa, một tiếng cạch vang lên.
Tiếng cạch ấy không lớn, nhưng vang rất sâu.
Nó giống như ai vừa mở then cũ, hay có lẽ như một cánh cửa trong lòng người vừa bật mở sau bao năm khóa chặt.
Trình khắc phác mở mắt trừng trừng, tim đập thịnh thịt.
Gã lật đật bật dậy, dẫm lên nền đất còn loang nước, chạy như điên về phía góc đa.
Trăng lưỡi liềm mỏng như lưỡi dao dọi qua táng lá, lều tranh đổ sập từ bao giờ.
Cái chum nằm trơ trọi giữa nền đất ẩm ướt, nhưng điều khiến gã sửng sốt đến lặng người.
Là cái nắp chum đã mở.
Không ai phá, không giấu vết cưỡng ép.
Chỉ đơn giản, nó đã tự bật ra, hé lộ bên trong một luồng sáng mờ nhạt.
Gã nuốt khan, bước đến gần, quỳ xuống thỏ tay nhẹ nhàng, đẩy nắp ra thêm một chút.
Không còn lửa phả, không còn hơi nóng, chỉ là hơi đất mát lành, mang theo mùi của thời gian sâu thẳm.
Bên trong chum là những thỏi vàng hình thoi, trên khắc chữ hán cổ.
Ngoài ra còn có các thẻ bạc, nhẫn ngọc, lụa quý, đã phai màu theo năm tháng.
Tổng cộng phải đến hàng trăm lạng vàng, đủ khiến một người sống người đời không hết.
Nhưng trình khắc phác không cười, không gieo mừng.
Gã ngồi bệt xuống đất, lặng im rất lâu.
Gió lùa qua tán đà, nghe như tiếng ai vọng lại.
Của phước mở kho phước, tham niệm là ổ khóa trói vận may.
Lần đầu tiên trong đời, trình khắc phác rơi nước mắt.
Không phải vì mất, cũng chẳng vì được, mà là vì gã hiểu.
Bao năm nay, gã bị trói bởi chính cái lòng mình.
Bao nhiêu mưu mẹo, bao nhiêu toan tính, cuối cùng chẳng thể bằng một chữ buông.
Sáng hôm sau, cả huyện Tứ Châu sôn sao khi nghe tin kho báo gốc đa đã mở.
Nhưng ai tới xem cũng chỉ thấy một tấm ván đóng ngang chùm, bên trên ghi dòng chữ.
Kho báo này không còn khóa, nhưng ai giữ lòng tham thì giữ cũng chẳng được.
Trình khắc phác không giữ lại tất cả.
Gã chỉ lấy ra một phần, đủ để sửa sang lại nhà cửa.
Mua thêm ruộng nương, trả công bấy lâu cho người làm.
Phần lớn số vàng gã mang chia đều.
Một phần cúng xây lại chùa Pháp tỉnh.
Một phần dựng học đường cho trẻ mồ côi.
Phần còn lại mở nhà tế bẩn, cứu tế kẻ không nơi nương tửa.
Người ta không còn gọi gã là Trình Kiệm Cứng, mà đổi thành Trình Phúc Ông.
Kẻ trợ phiên tôn kính, học trò nghèo cảm ơn, sư sãi chắp tay mìm cười mỗi khi nhắc tới tên gã.
Thế nhưng, điều kỳ lạ chưa dừng ở đó.
Một ngày nỏ, khi đám trẻ chơi quanh gò đa, chúng phát hiện dưới lớp rễ cây còn một khe hở nhỏ như cửa ngách.
Người ta tò mò đào thêm thì lộ ra một địa đạo cũ, không sâu, chỉ vừa một người cúi lôm khom đi vào.
Cuối đường hầm là một hang nhỏ có bàn đá và tượng phận nghìn tay nghìn mắt, nhưng bị bụi phủ dày.
Trên vách đá có khắc hàng chữ.
Người giữ kho báo, phải giữ tâm như nước.
Ai khiến lòng người sáng, ấy mới là người thử kế.
Các bậc cao tăng sau khi đến xem, xác nhận đây là một trong những ẩn tự.
Chùa nhỏ ẩn trong lòng đất, xưa kia do các vị thiền sư lập ra để tu luyện trong loạn thế.
Kho báo có lẽ là của bá tánh cất giữ nhờ nhà chùa, hoặc do các tăng nhân giấu đi để rồi đời sau tùy duyên hóa giải.
Khi được hỏi vì sao không giữ tất cả, Trình Phúc ông chỉ cười, vàng thật ở lòng người.
Mang hết về cũng chỉ thêm nặng gánh, biết đủ mới là đủ.
Từ đó, gã không còn sống như người buôn.
Gã trở thành người dạy học, mở lớp bình dân trong sân nhà.
Bài học đầu tiên, gã dạy lũ trẻ không phải là chữ, mà là một câu hỏi.
Nếu các con có một kho báo, con sẽ làm gì với nó?
Mỗi đứa trả lời một kiểu, nhưng cuối buổi, Trình Phúc ông chỉ nói,
Kho báo thật sự không nằm trong chung, mà nằm trong cách con sử dụng nó.
Có người dùng để xây nhà, có kẻ dùng để xây mổ, khác nhau chỉ ở một chữ, tầm.
Vài năm sau, Trình Phúc ông từ dã cõi đời, tuổi ngoài 70 ra đi thanh thản trong giấc ngủ.
Đám tang ông, người đến tiễn đưa dài từ chợ huyện đến cổng chùa.
Không ai nhắc về đồng bạc, không ai bàn về chung vàng.
Người ta chỉ kể nhau về ông láo từng là kẻ, keo kiệt,
đã đổi cả đời vì một đồng bạc rơi nhầm vào hòm công đức.
Bọn trẻ khắc một tấm bia nhỏ đặt cạnh gốc đa, khắc chữ.
Một đồng bạc, mờ lòng một người. Một tấm lòng, mờ được cả kho trời.
Về sau, Chùa Pháp Tịnh dựng thêm một tấm hoành phi treo trước hòm công đức,
viết, đừng sợ cho lầm, chỉ sợ giữ sai.
Người đến chùa đọc được câu ấy bỗng nhẹ bước hơn,
bởi ai rồi cũng sẽ lỡ tay rơi một điều gì đó.
Nhưng nếu rơi đúng chỗ, rơi đúng lúc,
thì đó không phải mất mà là duyên khởi cho một kho báo mai sau.
Chuyện trình khắc phác và đồng bạc rơi vào hòm công đức tưởng chỉ là một giai thoại cổ xưa.
Nhưng nếu ta bình tâm suy ngẫm,
sẽ thấy đây chính là câu chuyện của rất nhiều con người hiện đại.
Những người đang lạc trong mê cung của ham muốn, toan tính và gánh nặng phải có nhiều hơn nữa.
Xét dưới góc nhìn tâm lý học,
lòng tham không đơn thuần là tội lỗi,
mà là một phản ứng tự nhiên của bản năng sinh tổn.
Con người luôn muốn tích chữ, phòng xa,
vì sợ thiếu hụt, sợ mất mát, sợ thua thiệt.
Nhưng chính cái nỗi sợ ấy, nếu không được nhận diện và chuyển hóa,
sẽ trở thành xinh xích trói buộc tự do nội tâm.
Nỗi lo dữ của khiến người ta đánh mất cả niềm vui, lẫn ý nghĩa sống.
Trình khắc phác đã phải đi qua những cơn ám ảnh, mộng mị, thậm chí là điên giải,
để học một bài học giản dị mà thấm thiế.
Buông không phải là mất, mà là mở.
Dưới ánh sáng của Phật giáo, tham được xếp vào ba độc,
tham, sân, si, gốc dễ sinh ra khổ đạo.
Phật dạy, của cải vật chất không phải là tội,
nhưng chấp trước vào của cải mới là khổ.
Khi lòng còn vướng mắt vào một đồng bạc,
dù nhỏ hay lớn, thì con đường tâm linh không thể mở ra.
Mỗi người đều có một chung vàng trong lòng,
nhưng cái nắp đậy nó không phải bằng sắt hay gỗ,
mà bằng chính vọng tưởng và cấu chấp của bàn ngã.
Khoa học thần kinh hiện đại cũng đã chứng minh,
lòng vị tha, hành động tử tế,
sẽ chia không những tạo ra cảm xúc tích cực,
mà còn thay đổi cấu trúc não bộ.
Khi ta giúp đỡ người khác, não tiết ra oxytocin,
loại hormone làm dịu thần kinh,
tăng kết nối xã hội và giảm cortisol, hormone căng thẳng.
Người càng cho đi, càng có sức khỏe tinh thần bền vững,
sống lâu hơn và hạnh phúc hơn.
Còn triết học phương Đông, đặc biệt là Nho Gia,
luôn nhấn mạnh đến chữ nghĩa,
nghĩa với người, nghĩa với trời đất.
Kẻ giàu mà bất nghĩa thì giàu ấy như bọt nước,
một ngày sẽ tan.
Kẻ nghèo mà giữ được lòng chính trực, biết thuận đạo,
thì nghèo ấy là nền móng của phúc hậu muôn đời.
Trình khắc phác đã giàu tiền, nhưng phải đến khi giàu nghĩa,
thì cuộc đời ông mới thật sự mở kho báo lớn nhất.
Đó là lòng tin của người, sự kính trọng của đời,
và sự an yên khi nhắm mắt xuôi tay.
Vậy chúng ta, những con người sống giữa thời đại ồn ào,
chạy đua với vật chất,
liệu có đang đánh rơi điều gì quý hơn cả vàng bạc?
Liệu chúng ta có từng rút lại một đồng công đức vì sợ thiếu?
Có từng tính toán khi cho đi,
rồi hối tiếc vì thấy người khác được phước?
Có từng tự hỏi, mình giữ lại bao nhiêu,
nhưng đã giữ được điều gì thật sự bền lấu?
Trong đời sống hôm nay, rất nhiều chung vàng vẫn đang chờ mở.
Có thể là cơ hội, là tình thân, là tình yêu,
là lòng tin ai đó đã dành cho ta.
Nhưng cánh cửa ấy chỉ bật mở khi tâm ta thật sự lắng xuống.
Không ai nghèo vì bố thí,
chỉ nghèo khi sống không bao giờ chịu chia sẻ.
Xã hội hiện đại khuyến khích cạnh tranh, tích lý hơn thua.
Nhưng nếu không có những người chịu dừng lại,
chịu buông tay đúng lúc để lắng nghe tiếng gọi của thiện lương,
thì cái kho báo chúng ta còng lưng tìm kiếm suốt đời
sẽ mãi mãi là giấc mộng lừng lờ.
Bạn có thể là trình khắc phát thời hiện đại.
Có thể bạn đang tiếc một cơ hội đã mất,
một đồng bạc đã lỡ cho đi,
hay một lựa chọn tưởng chừng sai lầm trong quá khứ.
Nhưng có khi chính điều ấy là chìa khóa mà nhân quả đang gửi đến
để thử xem bạn có đủ duyên mở kho báo của cuộc đời mình hay chưa.
Hãy nhớ, cuộc phước mở kho phước còn tham niệm là ổ khóa, trói vận may.
Nếu câu chuyện hôm nay khiến bạn động lòng,
khiến bạn suy ngẫm về cuộc đời, về cách cho đi và nhận lại,
thì hãy cùng chúng tôi gieo thêm nhiều hạt giống thiện lành.
Hãy bấm đăng ký kênh Chuyện Xưa Cổ Nhân
nơi chúng tôi kể lại những câu chuyện nhân quả xưa,
không chỉ để nghe mà để chiêm nghiệm.
Mỗi câu chuyện là một chiếc gương soi tầm, là một con đường dẫn đến thiện duyên,
là một hạt giống bạn có thể gieo vào chính cuộc đời mình.
Vì biết đâu, kho báo bạn tìm kiếm chỉ cách một câu chuyện mà thôi.
Hẹn gặp lại bạn trong những mẫu chuyện tiếp theo.
Nơi đạo lý sống vẫn còn nguyên vẹn dưới lớp bụi mờ của thời gian.
