HÔN LỄ P3/5

Kẻ Học Trò
778 Người theo dõi
164 Lượt xem video·16 thg 3, 2026
Hôm nay, Trương Hữu Nhân và Dương Hồi tổ chức đại lễ thành hôn.
Sáng sớm, mặt trời từ từ nhô lên, tọa ra những tia nắng vàng chói lọi.
Trương Hữu Nhân đứng ở phía đông của ốc đảo Trương Gia,
quay mặt về hướng đông, đợi huyền huyền Thượng Nhân.
Lý Không Đồng, Xuyên Du, Ngọc Đĩnh, Khương Tử Nha
và những người khác trong phủ Ngọc Kinh đứng ở phía tây ốc đảo Trương Gia.
Mặt hướng về phía tây, đang chờ Ngọc Thanh Thiên Hương.
Lúc này, Dương Hồi vừa thức dậy, từ hàng giúp cô thay đổi trang phục.
Cô Nương, đây là bộ y phục hôm nay của cô Nương đó.
Dương Hồi vừa nhìn đã thấy rất thích thú, đây là màu xanh lục mà cô thích nhất.
Hỷ phục, hôn phục, rút cuộc nên là màu gì?
Một năm trước, khi Dương Hồi được gã về ốc đảo Trương Gia,
cô mặc chỉ một màu đỏ rực.
Trên đầu cũng trùng chiếc khăn màu đỏ.
Vì sao vậy?
Bởi vì, vào thời điểm đó, chế độ hôn nhân và rất nhiều văn hóa hôn nhân liên quan,
bao gồm cả các quy tắc quy định của thiên cượng về hôn nhân,
đều vẫn chưa hoàn thiện.
Thiên đế đương chức xuất thoái vị, ở vào quy luật thành trụ hoại diệt.
Hết thảy đều không còn tuân theo quy cũ nữa.
Đối ứng với nhân gian cũng là như vậy.
Chỉ là người ta không biết các quy tắc do thiên thượng định ra cho con người.
Cho nên, y phục nam nữ mặc trong đại lễ kết hôn màu nào cũng có.
Muốn trang trọng một chút, họ mặc đồ đen.
Muốn thể hiện sự vui vẻ, liền mặc đồ đỏ.
Cũng không có cái gọi là lễ khức phiến.
Khi muốn che mặt, họ liền dùng tấm vạy đỏ để che.
Thật ra, điều này là không đúng.
Hùng nhân giữa nam và nữ là một sự kiện trọng đại trong đời.
Từ một số ghi chép ít ỏi trong lịch sử triều đại nhà châu,
mọi người ngày nay đã phát hiện ra rằng
người dân thời đó mặc đồ đen và màu đỏ sẫm trong hôn lễ
chính là màu đỏ kết hợp của màu đen và màu đỏ tía của ráng chiều.
Nói thế nào nhỉ? Mới đúng một nửa thôi.
Sau này, mọi người còn mặc đồ trắng.
Đến thời Đường Tống, khi nền văn hóa đạt đến đỉnh cao,
thuật ngữ nam đỏ, nữ xanh xuất hiện.
Chính là lúc đó Tân Lan mặc màu đỏ, Tân Nương mặc màu xanh.
Thực ra, điều này còn tương đối phù hợp.
Sau đó, Tân Lan và Tân Nương đều mặc đồ đỏ.
Đến đây thì không đúng rồi.
Màu đỏ không thể được sử dụng trên quy mô lớn.
Điều này thật đáng sợ, bởi vì máu huyết của người và thần đều là màu đỏ.
Màu đỏ chỉ có thể dùng để tô điểm mà thôi.
Như vậy, người trung thổ chúng ta rút cuộc nên mặc màu gì trong hôn lễ?
Người nam chính là nên mặc y phục màu đỏ đen hoặc đỏ mận,
còn người nữ nên mặc y phục màu xanh lục.
Vì sao vậy?
Nữ giới là khôn. Khôn chính là đại địa.
Mà đại địa chính là đất.
Đất có màu gì?
Đất có màu vàng.
Nhưng đất có màu gì khi khoắt y phục lên?
Đương nhiên là màu xanh lục.
Vào mùa xuân và mùa hè, khắp núi non sơn giả đều phụ lên màu xanh ngọc bích của cây cỏ.
Đây chẳng phải chính là màu y phục thông thường của đại địa hay sao?
Cho nên, khôn đương nhiên có màu xanh lục.
Trên lễ phục màu lục có thể tôi điểm thêm màu đỏ tía,
giống như trên đại địa có dòng hoàng hà uống lượng.
Vậy, vì sao vậy?
Chúng ta biết rằng nên đón dâu vào lúc hoàng hôn.
Ý nghĩa của nó là dương đi đến âm.
Bây giờ âm dương đảo ngược.
Tổ chức hôn lễ thường vào buổi sáng.
Vậy vào lúc hoàng hôn, bầu trời có màu gì?
Thời đó, không khí còn rất tốt.
Bầu trời đẹp hơn bây giờ.
Vào lúc hoàng hôn, khắp trời đều là rán đỏ, là những màu đỏ thẩm.
Nam giới là khung.
Khung vũ rộng lớn, tối đen, mịt mùng, thân bí.
Do đó, triều đại nhà châu tôn quý màu đen, chính là màu huyền.
Và buổi chiều muộn, khi trời sắp tối,
màu đen và màu đỏ giao thoa, trở thành màu đỏ tía.
Cho nên, trong hôm lễ trọng đại của Nam giới,
đúng ra là phải mặc màu đỏ đậm hoặc màu đỏ tía.
Ráng chiều bàn bạc phản chiếu tuyệt đẹp lên mặt hồ trên đại địa,
khiến dòng trường gian uyển chuyển quanh co cũng ánh lên sắc đỏ.
Cho nên, cổ áo và tay áo của Tân Nương nên được theo viền đỏ,
giống như đại địa khoát lên mình chiếc khăn choàng màu đỏ vậy.
9 MẢO
6 giờ sáng
Huyền huyền thượng nhân từ phía đông bay tới.
Phía sau là một số vị thần tiên.
Trương thượng nhân quỳ xuống chào.
Sư phụ.
Huyền huyền thượng nhân mỉm cười.
Từ trên mây hạ xuống.
Nói.
Đứng lên đi.
Hữu nhân à.
Vị này là tư lễ tinh quân.
Vị này là hồng vương.
Còn vị này là nhạc mẫu.
Trương hữu nhân chấp tay cuối đầu chào từng người.
Bái kiến các vị thần tiên.
Sau khi huyền huyền thượng nhân cùng các vị thần tiên đến ốc đảo chương gia,
tất cả đều thu hết thần thông và ánh hào quang của mình.
Mặc lên y phục người thường.
Tự đi bộ hoặc đi lại bằng xe ngựa.
Giống như họ hàng thân thích từ phương xa đến tham dự tiệc cưới vậy.
Họ cười nói rông rã.
Vui vẻ đến về phía trương phủ tân viện.
Ở phía tây, Ngọc Thanh Thiên Vương cũng dẫn theo các vị thần tiên đến ốc đảo chương gia.
Sau khi Lý Không Đồng cùng các huynh đệ tỉ mùi bái kiến các vị thần tiên từng người một,
các vị thần tiên này cũng thu hết lại thần thông và hào quang của bản thân.
Cũng giống như người thường.
Nói cười vui vẻ hướng về phía biệt viện mà đi.
Ta phải ở lại đây với hữu nhân đã rồi mới sang bên đó.
Ngài mang theo thẻ tre và bút sang biệt viện trước đi.
Ghi chép lại hết các thứ nhé.
Hiểu không?
Được, chú công.
Tôi đi ngay đây.
Huynh đài xin hãy đợi một chút.
Mấy vị hỗ trợ của tôi cũng sắp sang đó.
Các vị cùng đi nhé.
Được, được.
Cùng đường mà, cùng đường mà.
Bên này, Dương Hội nghe thấy sư phụ sắp đến thì vui quá.
Định xuống lầu đi tìm sư phụ.
Từ hàng ngăn cô lại, nói với cô.
Cô nương, bây giờ con không thể rời khỏi quê phòng này được.
Nhưng sư phụ sắp đến đây.
Con lại chưa từng gặp qua sư phụ mà.
Từ hàng cười, nói với cô.
Con sao lại chưa từng gặp qua sư phụ?
Con thật tình chưa từng gặp qua ngày.
Con không lừa gì đâu.
Trong cuốn Trần Nguyên Đạo Pháp,
có một bức chân dung sư phụ.
Nhưng con chưa từng gặp sư phụ thật ngoài đời.
Ha ha, con và sư phụ đã là duyên phận ngàn vạn năm nay rồi.
Chỉ là ký ức của con trong đời này bị phong bế lại thôi.
Con nghe lời ta.
Một lúc nữa, sư phụ sẽ cho con một chữ.
Thì con sẽ gặp.
Bây giờ, một khi con rời khỏi quê phòng,
thì các cô gái đời sau sẽ học theo.
Như vậy là không được.
Thôi nào, cứ ngồi đó đợi sư phụ sẽ chọn chữ cho con.
Dương hồi không còn cách nào khác.
Chỉ có thể gật đầu.
Một thành ngữ khác quen thuộc xuất hiện.
Cho chữ trong quê phòng.
Cho chữ trong quê phòng là chỉ vào lúc cô gái chưa xuất giá.
Trong chữ quê này,
chữ thổ ở bên trong chữ môn
có thể hiểu là đất được bọc bên trong cửa
mà khôn, địa, thổ đều ở bên ngoài.
Cũng chính là nói thổ là từ trong cửa mà ra.
Vậy mà bạn, nữ trở thành khôn hoặc địa.
Nhưng càng ở trước khôn và thiên đứng trước địa.
Vậy khi càng chưa đến
thì địa lại có thể ra khỏi cửa được sao?
Như vậy chẳng phải là âm dương phản bới rồi sao?
Mà âm dương phản bới chẳng phải sẽ loạn bậy lũng tung rồi sao?
Cho nên, tân nương phải đợi tân lan đến đón rức mình
thì mới có thể ra khỏi quê phòng.
Nói cách khác, lời nói hành động của nữ giới là thủ động,
không được chủ động.
Con gái mà chủ động là trái với đạo trời.
Dân hồi ở trong phòng nghe thấy tiếng ồn ào vọng lên từ dưới lầu.
Dần như có rất nhiều người,
rất náo nhiệt, không nghe ra sư phụ là ai.
Vì vậy, cô bèn kéo chiếc bàn thấp cạnh giường đến gần cửa sổ,
treo lên bàn, kiển chân ngịnh cổ, nhìn xuống lầu.
Lúc này Ngọc Thanh Thiên Vương đang trò chuyện với mọi người,
bỗng nhiên bật cười nói với tư hàng,
tiểu mụi của người lại đang nghịch ngợm trên lầu đấy.
Các vị thần tiên nhìn sự việc thông qua thiên mục,
tuy họ không nhìn vào hướng đó,
nhưng mọi người đều thấy dân hồi đang đứng trên chiếc bàn thấp,
nghịnh cổ nhìn xuống lầu.
Cố tìm xem vị nào là sư phụ của cô,
bộ dáng vừa nghịch ngợm, vừa đáng yêu.
Các vị thần tiên đến tham dự tiệc cưới của con người,
vì để thuận tiện, họ tạm thời ép lên bản thân
sợi dây cảm xúc của con người,
cho nên họ cũng cười đùa treo chọc giống như con người vậy.
Một vị thần cười treo,
Một số triều đại không có đồ vật nào đó,
không phải vì họ không làm được,
mà vì họ không quen dùng, hoặc không thích dùng.
Đã làm được bàn, thì chiếc ghế đậu kia,
tại sao lại không làm được?
Vị thần này nói như vậy,
vì ông ấy thấy người sau này,
khi muốn nhìn xa, sẽ dẫm lên chiếc ghế đậu cao,
nên đã nói đùa như vậy.
Một vị thần khác cũng đùa theo,
Nghe vậy, một vị thần khác nữa tiếp tục cười treo,
Vị thần vừa rồi lại nói,
Vị thần này vừa nói giết lời,
Chúng thần đã nghe thấy tiếng nói phát ra trong tư tưởng của cô,
Chúng thần ai nấy cười nghiêng ngã.
Một vị thần nói,
Một vị khác lại nói,
Các vị thần nghiêm nghị gật gật đầu,
Vào đầu giờ tị,
Trương hữu nhân dẫn đầu, cơ phát đi liền sau,
tiếp đến là một số người khác,
cùng nhau tiến vào tư đường.
Trong tư đường này, có hai tấm bài vị.
Một tấm bài vị ở vị trí trung tâm phía trên cao,
bên trên đề, thiên, địa.
Một tấm bài vị khác ở phía dưới bên phải,
bên trên đề, quân, thân, sư.
Con người hiện nay biết rồng nho giáo thờ cúng can chi,
thiên, địa, quân, thân, sư,
rồi họ đặt trời, đất, vua, cha mẹ và thầy giáo lên trên tấm bài vị.
Điều này có ổn không?
Đây là không đúng.
Thiên địa đại biểu cho lão thiên gia là một vị thần,
còn quân vương cho đến cha mẹ song thân và thầy giáo,
họ là con người.
Làm sao con người và thần lại có thể được thờ cúng chung trên một tấm bài vị được?
Sau khi Trương Hữu Nhương vào tư đường,
đầu tiên anh ta ở trước bài vị của thiên địa quỳ xuống khấu đầu hành lễ.
Sau đó anh ta đứng dậy,
ở trước bài vị của quân, thân, sư, chấp tay thi lễ.
Sau khi Chu Thiên Tử Cơ Pháp và mọi người tiến vào tư đường,
họ đã quỳ xuống khấu đầu dưới bài vị của thiên địa
và cũng quỳ lại cả bài vị của quân, thân, sư.
Hai nhóm người này khác nhau thế nào?
Tại sao lại như vậy?
Bởi vì Trương Hữu Nhân là người tu luyện,
trong khi Cơ Pháp và những người khác là người thường.
Người tu luyện cao hơn người thường,
người tu luyện thời cổ xưa thấy đế vương cũng không quỳ xuống hành đại lễ,
chỉ chấp tay biểu thị sự chào hỏi theo lễ quy thông thường.
Sau khi các nhóm hành lễ xong,
họ bắt đầu dọn dẹp tư đường,
lau bàn, cỏ sàn nhà,
lau chùi cánh cửa,
dọn dẹp sạch sẽ các thứ để chuẩn bị đón Tân Ngương vào ngày hôm nay.
Sau khi dọn dẹp sạch sẽ đâu đấy,
họ lại bày biện một số đồ cúng,
như quả dưa, quả mận và quả đào.
Thực ra, Cơ Pháp cũng giống như ngày nay chúng ta gọi là phù rễ,
rất nhiều việc cần nhờ các khuyên đệ cùng làm
vì một người không thể làm sể được.
Sau đó họ thắp đèn dầu lên,
để lúc nữa sẽ đốt hương trong hôm lễ.
Trầm hương cũng được chuẩn bị sẵn.
Đến giờ ngộ,
mọi người có thể ăn một chút đồ ăn.
Nhưng Tân Lan và Tân Nương thì không được ăn,
bởi vì một lúc nữa họ sẽ bái thiên địa,
sẽ cần phát lời thề.
Cho nên, họ cần hết sức giữ gìn thân thể trong sạch kiện tịnh.
Họ có thể uống nước trắng hoặc uống trà.
Tân Lan, Tân Nương không được ăn trưa,
cho nên họ có một chút thời gian rảnh rỗi,
trừ hậu nhân bèn tắm cho chim đào hòa.
Chim đào hòa là gì?
Là một loài thần điểu,
do từ Lễ Tinh Quân mang đến,
chuyên môn giúp Tân Lan và Tân Nương tẩy nhịn trong hồn lễ.
Loài chim này không ăn thức ăn,
chỉ uống nước cam lô trên thiên thượng,
vì vậy mà dạy dày rất sạch sẽ.
Vào lúc Tân Lan, Tân Nương làm lễ tẩy nhịn,
một dòng nước tự động chạy ra từ miệng chú chim,
để giúp họ rửa tay.
Đào hòa, vừa có đào, vừa có hòa.
Đào là để đào bỏ thứ không tốt,
dung hòa thứ tốt.
Ngoài ra, đào hòa chính là điều hòa,
là để điều hòa, chỉnh lý âm dương.
Nhân loại chúng ta chẳng phải đã từng khai cuộc được
đào hòa, dụng cụ phá trụng rượu và nước,
cuối thời Tây Chu sao?
Nắp của đào hòa chính là hình một con chim.
Ở đâu lại có trí tưởng tượng chân thực như vậy?
Không phải trí tưởng tượng, mà là sự thật,
bởi vì văn hóa Trung Hoa
chính là trường phái tả thực đó thôi.
Sau bữa ăn, mọi người tranh thủ nghỉ ngơi,
chập mắt một chút.
Vào chính mùi,
cuối cùng Dương Hồi đã có thể ra khỏi phòng.
Nghe thấy giọng nói,
từ viên quang chủ trì sướng lên.
Lúc này, Dương Hồi đổi chiếc mũ miệng,
cài những bông hoa trà trên đỉnh mũ.
Hai bên mũ gánh hai giải tu rua rũ xuống.
Đóa sơn trà trên đầu cô không phải là bông hoa lớn,
mà giống một vành hoa,
tương tự như đài hoa sen vậy.
Hai bên mũ, phía trước phía sau
đều gắn những móng trang sức bằng vàng.
Phần phía trước mũ còn đính những sợi tu rua
nhỏ bằng vàng rũ xuống trước mặt
để che khuôn mặt của Dương Hồi
đang e lệ thẹn thùng.
Nhưng vẫn cảm thấy trên vương miệng này
còn thiếu một thứ gì đó.
Bởi vì giày rất cao,
bộ lễ phục lại dài.
Tuy đã có tỉnh nhi đỡ phái cho,
nhưng Dương Hồi bước xuống lầu vẫn có chút khó khăn.
Lúc đó, một vị nữ thần ở dưới lầu
nhanh chóng hóa thành chim Phượng Hoàng Vàng
bay đến chân Dương Hồi,
cổng Dương Hồi mang xuống dưới lầu.
Phượng Hoàng Vàng biến trở lại thành hình người,
miễn cừ nói với Dương Hồi.
Tỉ tỉ, đã lâu không gặp.
Dương Hồi cảm thấy cô ấy trông khá quen thuộc
như không nhớ ra là ai.
Tự Hạng nói với Dương Hồi
mau cảm tạ Phượng Hoàng Vương
và manh hoàng thần cuôn đi.
Dương Hồi chấp tay đáp lễ.
Lúc này, vị chủ hôn lại sướng lên.
Thủ, tử,
chỉ thấy Ngọc Thanh Thiên Vương
ngồi trên chiếc chiếu cói trong chính đường.
Trên tay cầm cây bút lông lớn,
hừa lên máy nét,
viết một chữ lớn lên tấm lụa trắng đặt trên bàn.
Dương Hồi quỳ xuống trước mặt bật cao đường,
chờ đợi cao đường ban chữ.
Con gái, ngày hôm nay con xuất giá,
cha sẽ ban cho con một chữ.
Viên quan dân tấm lụa
đã viết chữ này lên cho Dương Hồi.
Dương Hồi đưa hai tay đón lấy,
nhìn thấy là chữ Uyển.
Dương Hồi ôm chữ này vào ngực mình,
khấu đầu thưa.
Cảm ơn nghiêm quân ban chữ.
Con gái à, hữu nhân,
khiêm nhường, lễ độ,
con cũng phải ngoan ngoãn từ tốn đó.
Cảm ơn nghiêm quân dạy bảo,
con xin ghi nhớ lời dặn của cha.
Nam kết hôn, nữ xuất giá
là một sự việc phi thường nghiêm túc,
cho nên Dương Hồi đương nhiên
phải đối đại rất nghiêm túc với việc này.
Nhưng vì chức vụ trước kia của Dương Hồi
cũng chính là do chư thần hữu ý tạo ra
để cô có thể tế âm bổ dương,
cố tình để cô được rèn luyện uy nghiêm.
Cho nên khi cô nghiêm túc,
gương mặt này tự nhiên nghiêm nghị.
Dùng ngôn ngữ của con người hiện đại mà nói
là có chút lạnh lùng đáng sợ.
Lúc này, một vị thần khác trên thiên thượng nói
Không sao, đã nhiều năm như thế,
bổ dương không thành vấn đề.
Một vị thần khác cũng gật gù đồng ý
Vậy là đủ rồi.
Lúc này, Ngọc Thanh Thiên Vương cười nói
Con gái à, sau khi thành thân rồi
còn phải từ mi thiện mục,
ánh mắt hiền hậu nhu hòa
chớ có giữ dằn hung hăng nữa.
Lúc này, chợt rộ lên tiếng cười
của chư thần ở trong phòng.
Dương Hồi nghe vậy thì cảm thấy rất khó hiểu.
Gì cơ? Giữ dằn hung hăng à?
Mình giữ dằn hung hăng lúc nào nhỉ?
Lúc này, vị chủ hôn lại sướng lên.
Trì, xiếng, giữ, quạt.
Tiếp đó, từ hàng nâng chiếc quạt lên đưa cho Dương Hồi.
Dương Hồi nhìn kỹ, phát hiện
đó là một chiếc quạt lụa mềm, quạt tròn.
Cắn quạt và mặt quạt giống như băng.
Dải nơ trang trí đính ở cắn quạt
cũng giống như băng vậy.
Hoàn toàn trong suốt.
Đây chính là quạt rèm nước trong suốt.
Dương Hồi tiếp lấy chiếc quạt rèm nước trong suốt
nâng lên ngang mặt.
Bây giờ, nhìn khuôn mặt Dương Hồi qua chiếc quạt này
lập tức trở nên hiền lành phúc hậu.
Ánh mắt hiền dịu thiện lương
không còn vẻ sắc xảo lợi hại như xưa nữa.
Từ đồng âm của phiến là thiện.
Người xưa có lễ khước phiến
nghĩa là tân nương phải dùng quạt vẽ che khuôn mặt
chỉ sau khi bái đường mới được bỏ quạt xuống.
Ở đây, nghi lễ này có hai ý nghĩa.
Một là che đi sự xấu hổ.
Và hai là nói với người phụ nữ rằng
từ giờ trở đi nàng nhất định
phải luôn từ mi thiện mục
vẽ dịu dàng đôn hậu
phải toát ra từ ánh mắt của mình.
Chữ tu, xấu hổ, có ý tứ gì?
Trong văn tử Giáp Cốt
chữ tu có bộ dương ở bên trái
bộ xú ở bên phải
bộ dương rất dài
che đi sự xấu xí
Sau này, trong chữ tiểu triện
bộ dương ở trên và bên trái
còn bộ xú ở góc dưới bên phải
đó vẫn là che đi sự xấu xí.
Con cừu tượng trưng cho sự thiện lương
chỉ những người thiện lương
mới biết xấu hổ thẹn thùng.
Biết xấu hổ chính là ranh giới
đạo đức cuối cùng của con người.
Phụ nữ biết e thẹn xấu hổ
là vô cùng quan trọng.
Nếu một quốc gia hay dân tộc
mà người phụ nữ thậm chí
còn không biết xấu hổ là gì
thì quốc gia đó đã kết thúc rồi.
Chữ tu này
ở trong các từ tu dung, tu nhang
tu sáp, sắc thái, v.v.
có nghĩa là
gián vẽ đoan trang
vẽ mặt thẹn thùng
thần thái e lệ bẻ nhãn
rất nhiều trong số đó
liên quan đến gián vẽ thể hiện bề ngoài.
Bất kể người con gái này
có nhan sắc xinh đẹp đến cỡ nào
nếu cô ấy động trước quạt
và để lộ ra vẽ đẹp của mình
thì đó cũng là xấu xí
được gọi là không biết xấu hổ.
Bởi vì thế giới này
không chỉ có phái nữ
mà còn có nam nhi.
Làm người phải vì người khác mà suy xét.
Khi người phụ nữ để lộ ra vẽ đẹp của mình
bạn có thể không để ý
hay suy nghĩ nhiều về đó
hoặc là không chủ đích có tâm sắc dục
nhưng bạn sẽ khơi lên tâm sắc dục
của người nam.
Mà khi tâm sắc dục
của người nam nổi lên
nó liền chiêu vời ác quỷ đến
làm trầm trọng hơn tâm sắc dục của họ
như vậy sẽ dễ dàng dẫn đến
sự giâm loạn bừa bãi
giữa nam và nữ.
Có người sẽ nói
Vậy thì có quá nhiều ước thúc
đối với phụ nữ.
Nam giới bị động sắc tâm
cũng đổ lỗi cho nữ giới.
Sao mọi thứ đều là trách nữ giới?
Vậy người phụ nữ sẽ không cần gọn gàng nữa
đều cần phải biến thành yêu quái
xấu xí mất rồi.
Không phải là như vậy.
Diện mạo xinh đẹp là phúc vận trời bang.
Nếu biết thể hiện một cách chừng mực
thì không có gì sai.
Nam xưa thiên bồng nguyên xoái
động lòng với hàng Nga.
Ngọc Doàng cũng chỉ trừng phạt thiên bồng
đánh hạ xuống giới thiên giới
chứ không trách tội hàng Nga.
Vạn sự giảng ở một chữ tâm
đều ở cái tâm này
không phải tại hình thừa bề ngoài.
Nói cho cùng thì là đạo lý này
là nhữ nhi
phải giữ gìn trinh khiết
vừa là vì người Nam mà suy xét
lại vừa giữ vững đức hạnh của bản thân.
Vào ngày trọng đại
khi người con gái xuất giá thành thân
cô ấy đẹp lộng lẫy
đến mức khó có thể nói được
người Nam nào đó sẽ không bị cô ấy
thu hút mà khiến họ động lòng
dễ gây ra những phiền tói
không đáng có cho nên cô ấy
phải che mặt cũng được gọi là
Đây được gọi là
một loại thiện lương.
Chữ xấu hổ này
đối với xã hội là phi thường quan trọng.
Nó có nội hàm
cực kỳ thâm sâu.
Mà hôm nữa, xấu hổ
và tu luyện ở trong chữ hán
là từ đồng âm.
Nếu người nữ không biết xấu hổ,
trạng thái phong vận của thế giới này
thực sự đã đạt đến mức cực kỳ đáng sợ.
Bao gồm cả những việc như
nữ giới theo đuổi nam giới bây giờ
nói hơi khó nghe
đó chẳng phải là không biết xấu hổ hay sao?
Đương nhiên,
về bản chất, vấn đề này cũng không hoàn toàn
đổ lũi cho nữ giới.
Chính là do văn hóa đã không còn
mà dẫn đến hiện tượng này.
Nữ giới ngày nay rất mạnh mẽ,
rất lợi hại.
Đến đây tôi thật tình không dám nói nhiều nữa.
Hi hi.
Nhưng bất kể là nam hay nữ,
dù bạn có vẻ lợi hại đến cỡ nào,
bạn cũng là con người.
Nếu bạn phạm vào thiên đạo,
bạn ác sẽ bị tiêu đi phúc vần,
tài lọc và nhân mệnh.
Điều này không cần bàn cãi nữa.
Trở lại nghi lễ khước xuyến.
Chiếc quạt này là đường thông đến thiện lương.
Người nữ sau khi xuất giá
cần phải từ mi thiện mục.
Sự thiện lương toát ra từ ánh mắt
để cô ấy luôn giữ mình hiền thụt dịu dàng.
Các vị sứ thần
ở trên thiên thượng
đều đang ghi chép.
Khi cô nương trong khuôn phòng
trở thành người phụ nữ,
cần phải dịu dàng tử tế,
hiền hậu như mì từ ánh mắt.
Một số người không nghĩ rằng
các vị thần đang ghi chép những điều này
cho chính bản thân mình, phải không?
Đương nhiên không phải.
Họ là thần.
Họ đang ghi lại những quy tắc của thiên thượng
để ước thúc nhân loại
và quyết định phúc họa trong vận mệnh
của mỗi con người nơi thế gian
là quy tắc luật pháp từ thiên thượng
chính là thiên đạo vậy.
