Thuyết trình bài 2,chuyên đề vật lí 12.Nhóm của Ngọc Phụng,Quỳnh Trâm và Thanh Trúc, lớp 12A5 #vuihocly, #ltk2026, #vatli12.

Quỳnh Trâm
1 Người theo dõi
141 Lượt xem video·30 thg 4, 2026
Xin chào thầy, tụi em là học sinh lớp 12A5.
Hôm nay tụi em sẽ thiết chỉnh về bài 2, Máy biến áp và truyền tài điện năng.
Nhóm em gồm Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm, Lâm Thân Trúc và Phạm Ngọc Phụng.
Nội dung hôm nay tụi em thiết chỉnh sẽ gồm 2 phần là Máy biến áp và truyền tài điện năng.
Đầu tiên, chúng ta sẽ đến với phần 1 là máy biến áp.
Chúng ta có khái niệm về máy biến áp là thiết bị làm thay đổi giá trị điện áp hiệu dụng của dòng điện xây chiều mà vẫn giữ nguyên tần số dòng điện.
Tiếp theo, chúng ta cùng đến với phần cấu tạo của máy biến áp.
Nhìn vào hình ảnh, ta có thể thấy máy biến áp có 2 cuộn dây được phủ chất tách điện có số vòng khác nhau cùng quần trên 1 khung thép kính gồm nhiều lá thép mỏng được ghép tách điện với nhau, được gọi là lối biến áp.
Ngoài ra, ta còn có cuộn dây thứ nhất có nở 1 vòng lực nổi với nguồn điện xây chiều, gọi là cuộn sơ cấp, và cuộn dây thứ 2 có nở 2 vòng lực nổi với thiết bị tiêu thụ điện năng, gọi là cuộn sơ cấp.
Thêm vào đó là điện áp hiệu dụng của cuộn sơ cấp có ký hiệu là U1 và điện áp hiệu dụng của cuộn sơ cấp, ký hiệu là U2.
Tiếp theo, chúng ta cùng đến với phần nguyên lý hoạt động của máy biến áp.
Máy biến áp hoạt động dựa vào hiện tượng cảm ứng điện tư.
Ta có điện áp hiệu dụng ở 2 đầu cuộn dây tỷ lệ với số vòng dây của 2 cuộn.
Và vì số vòng dây của 2 cuộn là khác nhau nên điện áp hiệu dụng ở 2 đầu mỗi cuộn dây cũng khác nhau.
Ta cùng đến với phần cuối cùng của máy biến áp.
Gọi N1, M1 tu 1, 1 1 và N2, M2, U2, 1 2 lần lượt là số vòng dây, xuất điện động hiệu dụng, điện áp hiệu dụng và cứng độ dòng điện hiệu dụng của cuộn sơ cấp và cuộn thứ cấp.
Khi đó, ta có biểu thức như sau M1 trên M2 bằng N1 trên N2.
Và nếu ta bỏ qua điện chở cuộn sơ cấp và thứ cấp thì U1 bằng M1 và U2 bằng M2.
Do đó, ta lại có biểu thức U1 trên U2 bằng với N1 trên N2.
Do máy biến áp mà ta xét là máy biến áp lý tưởng nên, T1 bằng với T2 hay nói cách khác là U1 nhân vào 1 bằng U2 nani 2.
Từ đó suy ra, ta có biểu thức M2 trên Y1 bằng U1 trên U2 và bằng N1 trên N2.
Như vậy, máy biến áp làm tăng điện áp lên bao nhiêu lần thì sẽ làm giảm cứng độ dòng điện đi bấy nhiêu lần và ngược lại.
Ngoài ra, tần số của điện áp say chiều là không đổi.
Nếu đó là máy tăng áp thì N2 sẽ lớn hơn N1 hay U2 lớn hơn U1.
Nếu N2 bé hơn N1 thì ta có U2 bé hơn U1, máy biến áp đó sẽ là máy hạ áp.
Nhìn vào hình, ta sẽ thấy đó một số máy biến áp phổ biến hiện nay gồm có máy biến áp được sử dụng trong phòng thí nghiệm môn vật lý,
máy biến áp 1 pha được sử dụng trong sinh hoạt,
máy biến áp 3 pha sử dụng trong sản xuất và cuối cùng là máy biến áp 3 pha công suất lớn dùng trong truyền tải và phân phối điện năng.
Sau đây, chúng ta cùng qua phần 2 là mã, truyền tải điện năng đi xa.
Phần đầu tiên, công suất hào phí trong truyền tải điện năng đi xa.
Việc điện năng được truyền tải từ nhà máy điện đến nơi tiêu thụ thường bị hào phí đáng kẻ chủ yếu do tỏa nhiệt trên đường dây truyền tải.
Ta gọi giờ là điện trở của đường dây tải điện.
U và P lần lượt là điện áp hiệu dụng và công suất cần truyền tải ở nơi phát điện,
một là cường độ dòng điện hiệu dụng trên đường dây truyền tải.
Khi đó, ta có cây bằng U nani, ngoài ra công suất hào phí trên dây chính là công suất tỏa nhiệt trên dây,
Cuối cùng, ta đến với phần giảm công suất hào phí trong truyền tải điện năng đi xa.
Giờ công suất là xác định nên có hai cách làm giảm công suất hào phí.
Cách đầu tiên là làm giảm điện trở của đường dây truyền tải.
Từ công thức, giờ bằng dô nhân l chia cho x trong đó dô là điện trở suất, l là chiều dài của dây.
X là tiết diện của dây dẫn, có thể giảm giờ bằng cách.
Thứ nhất là thay dây có điện trở suất nhỏ, ví dụ như đồng hay nhôm.
Thứ hai là tăng tiết diện dây tải.
Tuy nhiên điều đó sẽ dân đến làm tăng nguyên liệu để chế tạo và tăng số lượng của điện để chống đỡ đường dây.
Do đó cách này vừa làm tăng chi phí, vừa gây ra nguy cầu mất an toàn trong việc truyền tải điện năng.
Cách thứ hai là tăng điện áp hiệu dụng U ở nơi phát điện.
Khi đó ta cần sử dụng máy tăng áp.
Giả sử như điện áp tăng lên 10 lần thì công suất hào phí giảm tới 100 lần.
Và tại nơi tiêu thụ điện, điện áp xoay chiều cần được hạ đến giá trị phù hợp thường là 220V hoặc 380V bằng cách sử dụng máy hạ áp.
So với cách một, việc tăng điện áp nơi phát thông qua máy tăng áp sẽ hiệu quả hơn trong việc giảm công suất hào phí khi truyền tải điện năng.
Như vậy, để giảm công suất hào phí trên đường dây tải điện,
cần sử dụng máy tăng áp tại nơi phát trước khi truyền tải và dùng các máy hạ áp trước khi phân phối điện đến nơi tiêu thụ như nhà máy, xí nghiệp và hộ gia đình.
Hệ thống này gọi là mô hình truyền tải và phân phối điện năng.
Nhìn vào hình 2.6 sẽ giúp ta dễ hình dung hơn.
Cuối cùng, chúng ta cùng giải đắc câu hỏi trong ví dụ 6 là vì sao dòng điện không đổi khó có thể truyền tải đi xa.
Chúng em xin được trả lời là do không thể sử dụng máy biến áp để tăng điện áp lên cao một cách đơn giản được.
Điều đó sẽ dân đến điện áp không tăng lên được, kéo theo hào phí điện năng trên đường dây rất lớn do tỏa nhiệt.
Do đó việc truyền tải đi xa sẽ không còn hiệu quả nữa.
Đó là phần thước trình của nhóm em về bài 2 của chuyên đề vật lý 12, máy biến áp và truyền tải điện năng.
Cảm ơn thầy đã lắng nghe.
