Những Vũ Khí Chống Tăng Uy Lực ĐÁNG GỜM Nhất Thế Giới (Bản Full)
Ra đời cách đây một thế kỷ, xe tăng đã thay đổi gần như mọi học thuyết về chiến tranh và gần như mọi quân đội hiện đại đều có binh chủng tăng thiết giáp của riêng mình. Nhưng cũng vì lẽ đó, việc phát triển ra các vũ khí chống tăng anti-tank (viết tắt là AT) là yêu cầu tiên quyết vì không phải lúc nào các đơn vị hay lực lượng vũ trang cũng có xe tăng để đối kháng với quân địch, hoặc số lượng tăng quá ít ỏi hoặc bất cân xứng với đối phương. Nếu không có trong tay một lực lượng để bẻ gãy gọng kìm thép của địch thì kết cục cuộc chiến có thể đã được định sẵn từ trước khi nó bắt đầu. Sự phát triển của vũ khí chống tăng cùng với xe tăng luôn đi song hành với nhau, vốn là câu chuyện "cây mâu và cái thuẫn". Giáp của tăng càng dày hơn thì vũ khí chống tăng càng mạnh mẽ hơn. Hãy cùng KTQS khám phá những loại vũ khí chống tăng đỉnh nhất thế giới từ suốt Thế chiến I và II cho đến những vũ khí thời kỳ hiện đại trong video ngày hôm nay. ----------------------------- ▶ ‘CDTeam - Kiến Thức Quân Sự’ là Kênh cung cấp cho các bạn những tri thức, hiểu biết chung về tình hình quân sự, chính trị trên thế giới. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ email: [email protected] ▶ ĐĂNG KÝ KÊNH miễn phí: https://bitly.com.vn/B7NrX ▶ Xem video 4 Loại Vũ Khí Chống Tăng HIỆU QUẢ HƠN CẢ TÊN LỬA, Quốc Gia Nào Cũng Thèm Khát: • 4 Loại Vũ Khí Chống Tăng HIỆU QUẢ HƠN CẢ T... ▶ Xem video 3 Vũ Khí Chống Tăng Bá Đạo Nhất Lịch Sử Thế Giới: • 3 Vũ Khí Chống Tăng Bá Đạo Nhất Lịch Sử Th... ▶ Xem video Tất Cả Xe Tăng Thế Giới Lập Tức Quay Đầu Bỏ Chạy Khi Gặp Quả Tên Lửa Này Của Mỹ: • Tất Cả Xe Tăng Thế Giới Lập Tức Quay Đầu B... ▶ Xem video Súng Chống Tăng Mỹ Có XUYÊN THỦNG Nổi Tăng T-90 Nga Hay Không?: • Súng Chống Tăng Mỹ Có XUYÊN THỦNG Nổi Tăng...
Ra đời cách đây một thế kỷ, xe tăng đã thay đổi gần như mọi học thuyết về chiến tranh
và gần như mọi quân đội hiện đại đều có binh chủng thăng thiết giáp của riêng mình.
Nhưng cũng vì lẽ đó, việc phát triển ra các vũ khí chống tăng, anti-tank, viết tắt là AT
lại yêu cầu tiên quyết vì không phải lúc nào các lươn vị hay lực lượng vũ trang
cũng có xe tăng để đối kháng với quân địch, hoặc số lượng tăng quá ít ỏi, hoặc bất cần xứng với đối phương.
Nếu không có trong tay một lực lượng để bẻ gãy gọng kim thép của địch
thì kết cục của cuộc chiến có thể đã được định sẵn từ trước khi nó bắt đầu.
Sự phát triển của vũ khí chống tăng cùng với xe tăng luôn đi song hành với nhau
vốn là câu chuyện Cây Mâu và Cái Thuẫn.
Giáp của tăng càng dày hơn, thì vũ khí chống tăng càng mạnh mẽ hơn.
Quý vị hãy cùng với kiến thức quân sự khám phá 4 trong số những loại vũ khí chống tăng đỉnh nhất trên thế giới
trong suốt cuộc chiến thứ nhất và thứ hai trong video ngày hôm nay.
Đầu tiên, chúng ta sẽ đến với súng trường chống tăng.
Nghe thì có vẻ lạ lùng, nhưng súng trường chính là loại vũ khí đầu tiên được sử dụng để chống tăng.
Quý vị chắc hẳn sẽ tự hỏi, làm sao những viên đạn nhỏ bé có thể đâm thủng được lớp giáp dày của xe tăng đúng không?
Đả bán ở chỗ, lúc xe tăng mới ra đời, giáp của chúng cũng không dày lắm.
Ngoài ra, chưa thể có khái niệm vũ khí chống tăng chuẩn nếu các quân đội chưa có ý niệm gì về xe tăng.
Xuất hiện lần đầu trong lịch sử chiến tranh thế giới thứ nhất, xe tăng của linh quân Anh, Pháp là sự bất ngờ lớn đối với lính Đức.
Tuy vậy, những chiếc tăng đầu tiên của đồng minh tỏ ra khá chậm chạp và số lượng cũng không đủ.
Người Đức đã kịp thời có thời gian để ứng phó với loại hình vũ khí mới mẻ này.
Cách thức chống tăng đầu tiên được đề ra là đạn ngược.
Theo đó, viên đạn được đặt ngược hướng lại so với thông thường.
Đầu tu của viên đạn sẽ đâm vào giáp của xe tăng thay cho đầu nhỏ.
Bằng cách này, lực đục sẽ mạnh hơn và bao mòn dần lớp giáp ngoài.
Trong vài trường hợp, viên đạn thậm chí đục thủng cả lớp giáp này và gây sát thương cho tổ lái bên trong.
Xong nhìn chung thì đạn ngược cũng không phải là cách tốt để đối phó với tăng.
Chúng còn làm hư hỏng cây súng và đôi khi làm bị thương cả 9 người bán.
Quân đội Đức nhanh chóng chế tạo ra một loại đạn khác có tên là K-Bluat 7,92 x 57 ly
với lõi thép bên trong cho khả năng đâm xuyên mạnh hơn.
Đạn K cộng 30% khả năng xuyên thủng lớp giáp dày 12-13 ly ở cưa ly 100m.
Về bản chất thì đạn này là một dạng đạn xuyên giáp AP và nó còn có thể dùng để phá hoại các cấu trúc khác.
Súng trường AT và đạn AP vẫn được tiếp tục sử dụng sau đó trong các cuộc chiến như Thế chiến thứ 2 hay Chiến tranh Triều Tiên
với cơ đạn ngày 1 lớn hơn từ 12-7 ly trở lên.
Tuy vậy, khi giáp tăng ngày 1 dày hơn và bắt đầu được trang bị thêm các loại giáp phản ứng nổ
thì vai trò của súng trường AT ngày càng bị thu hẹp.
Tiếp theo trong danh sách là súng chung tăng.
Quay trở lại Thế chiến thứ nhất, không khó để quân đồng minh nhận ra cần trang bị giáp dày hơn cho tăng
để chống lại đạn K hay liều đạn cải tiến của Đức.
Ngoài ra, các loại đạn AP nói chung không gây nổ mà chỉ đâm xuyên giáp là chính
để làm hỏng động cơ hoặc gây sát thương cho tổ lái bên trong.
Nếu chiếc tăng có cấu trúc phức tạp với nhiều vách ngăn thì đạn AP cũng không hiệu quả cho lắm.
Do đó, người Đức cần tới một vũ khí hiệu quả hơn.
Những con súng AT đúng nghĩa đã được ra đời.
Điển hình là súng 3,7cm TAK sử dụng đạn pháo 3-7 ly ra mắt vào năm 1918.
Nhưng do chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc ngay sau đó nên vai trò của TAK không mấy nổi bật.
Chỉ đến cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai khi mà xe tăng trở thành nòng cốt của các cuộc tấn công
thì những loại súng trên mới thể hiện được vai trò của mình.
Có thể kể đến là PAK-36 của Đức, Gun M3 của Mỹ, QF-2 Powder của Anh hay M1937 của Liên Xô.
Những loại súng AT có cỡ nòng dưới 50 ly được dùng chính trong giai đoạn đầu thế chiến thứ 2 trên
tỏ ra khá hiệu quả với các thế hệ tăng đầu tiên.
Nhưng đây là cuộc chiến mà cả xe tăng lên vũ khí AT cùng lột xác
nên khi các phe cùng triển khai những loại tăng hạng chung
thì các pháo cỡ nòng dưới 50 ly bắt đầu thua kém và chỉ đủ gãi ngứa.
Yêu cầu về những súng AT có sức công phá mạnh hơn lại tiếp tục
khi Đức lần lượt tung ra PAK 40-75 ly rồi FLAK 18-36-88 ly
khi Liên Xô có M1943-57 ly rồi M1944-100 ly
Người Anh mang theo QF-17 Powder 76.2 ly
trong cuộc đổ bộ lên bờ biển Normandy vào năm 1944.
Người Mỹ có một pháo có cỡ nòng tương tự là GUN M5 76.2 ly.
Thứ 3 trong danh sách không thể không nhắc đến là xe diệt tăng.
Quý vị có thể xem xe diệt tăng là phiên bản mạnh mẽ hơn của súng AT
nhưng theo hướng ngược lại thì cũng có thể xem chúng là những chiếc tăng giả khóa
bởi vì trong giai đoạn đỉnh cao của thế chiến thứ 2
nhìn bên ngoài những chiếc xe diệt tăng rất giống với xe tăng
mà không ít người đã tưởng những cỗ máy bọc thép này là xe tăng.
Vậy thì chúng đã được khai sinh như thế nào?
Trước hết, xe diệt tăng được ra đời trên cơ sở bộ binh các quốc gia
cần có những súng AT mạnh mẽ hơn trên chiến trường
tức cơ nào phải lớn hơn và khối lượng quả đạn phải nhiều hơn.
Điều này khiến cho việc làm ra và sử dụng những súng AT dạng xe kéo hoặc di chuyển
bằng tay, giò người đẩy sẽ trở nên khó khăn hơn.
Để tiêu diệt những chiếc tăng có rác ngày càng dày hơn, một quả đạn bình thường là không đủ
và không phải lúc nào pháo thủ súng AT cũng có thể bắn trúng ngay từ quả đạn đầu tiên.
Nhưng một khi đã nổ súng, thường thì đối phương có thể đoán biết vị trí ẩn nấp của đội diệt tăng
từ đó có thể tiến hành tấn công ngược trở lại.
Điều này khiến cho việc diệt tăng bằng súng AT trở nên rất nguy hiểm
vì rất khó để thay đổi vị trí sau khi bắn nếu khẩu súng quá to và nặng.
Do vậy, các quân đội đã nghi ra ý tưởng đặt những khẩu pháo AT có kích thức ngày càng lớn
lên trên những cốt xe bỏng thép, giúp cho các đội diệt tăng có khả năng cửa động cao hơn
so với việc cố thủ tại một vị trí rủi nhất
và bị bánh xích cho phép đạt trọng tài cao hơn trên cùng một dợn đích tiếp xúc so với bánh hơi
nên những chiếc xe diệt tăng này thường dùng chung thân với những chiếc xe tăng
khiến chúng hoạt trồng khá giống với xe tăng.
Khi mà thị triển thứ 2 bước vào giai đoạn cạnh thẳng,
các phe đều chạy hết công suất để sản xuất vũ khí phục vụ chiến đấu.
Việc đồng nhất và tận dụng lại các khí tài sẵn có là một cách đảm bảo nguồn cung cho tiền tuyến.
Vì vậy, triết lý thiết kế xe diệt tăng ngày càng giống với thiết kế của tăng.
Gần như mọi chiếc xe tăng đều có phiên bản dạng hóa thành xe diệt tăng
với chi phí và nguyên vật liệu tối nít hơn.
Những chiếc tăng cũ bị hư hỏng khi giao chiến đều được tận dụng lại
để hoặc có thể sửa chữa làm tăng hoàn chỉnh hoặc làm xe diệt tăng,
tùy theo điều kiện sẵn có.
Thậm chí có lúc khi số lượng tăng trinh thống trở nên quá ít ỏi để phục vụ chiến đấu
thì nhiều xe diệt tăng đã được đẩy từ vị trí phòng vệ sang tiến công chủ động
để giúp hỗ trợ bộ binh giành cứ điểm.
Và cuối cùng trong danh sách và kiến thức quân sự gửi đến quý vị
đó là lựu đạn chống tăng.
Trong khi đạn thường có hiệu quả tiêu giật sinh lực địch tính trên từng người một
thì lựu đạn hoặc các loại thuốc nổ nói chung có thể gây thương vong cho số lượng lớn hơn.
Và điều quan trọng hơn là sự công phá có thể dễ dàng thay đổi
chứ không cố định như kích thước các vệ nạn.
Người Đức nhanh chóng nhận ra có thể kết hợp nhiều trái lựu đạn dạ que của họ
lại thành một trái lớn hơn
và quăng chúng lên những chiếc xe tăng mắc chậm chập của anh.
Phương pháp nhồi này tiếp tục được sử dụng trong Thế chiến thứ 2
bằng cách bỏ nhiều thuốc nổ vào trong các túi cát
rồi châm ngòi trái chậm trước khi người lính ném chúng về phía những chiếc xe tăng.
Đáng chú ý hơn là các trường hợp cảm tử quân mang trên mình hàng chục trái lựu đạn
rồi lao thẳng về tăng đối phương để kích nổ
thường được thấy trong cuộc chiến giữa Trung Quốc và Nhật Bản.
Trước đó vài năm thì quân đội Anh đã yêu cầu cần có một loại vũ khí chống tăng cự ly gần
nhưng lại phải đơn giản, dễ sử dụng và dễ trảy tặng.
Sau đó những trái lựu đạn nâu bảy tư ra đời
nhưng thường được gọi là bom dính.
Bên cạnh bom dính, người Anh còn sử dụng một loại lựu đạn AT khác
có tên là nâu 68.
Nhưng thay vì dùng tay để quăng
thì nâu 68 được phóng bằng cách gắn nó vào đầu một cây súng trường rồi bắn ra
tương tự các loại lựu đạn súng trường khác.
Đầu nổ cho phép nó xuyên qua lớp giáp giày 52 ly.
Nhưng những loại lựu đạn AT nguy hiểm thực sự
lại bắt nguồn từ người Đức.
Khi bắt đầu đánh vào Nga hồi năm 1941
binh lính Đức đã mang theo bên mình những trái PMW
với đầu nổ dạng lõ nhằm tạo ra hiệu ứng Munro
không chỉ tiết kiệm khối lượng thuốc nổ
mà còn cho sức công quá mạnh hơn.
Chúng có hai phiên bản ngắn và dài.
PMW có đầu nổ 0,5 kg
và có khả năng xuyên qua lớp giáp giày 150 ly ở hướng trực diện.
Do vậy nó có thể phá hủy cả những chiếc xe tăng có giáp giày nhất lúc bấy giờ.
Nhưng không quá lâu để người Nga có thể copy lại
RPG-40 ra đời vào năm 1940
có khối lượng nổ tới 0,76 kg
nhưng chỉ đục được lớp giáp giày 20 ly.
Mãi tới năm 1943
và RPG-43 mới có đặc tính giống với PMW
thì có đầu nổ lõm nặng 0,61 kg
nhưng lại đục được giáp giày 75 ly.
Đến cuối năm đó
người Nga tung ra tiếp phiên bản ưng cấp RPG-6
có đầu nổ chỉ nặng 0,57 kg
và đục được giáp 100 ly.
Đó là mặt trận chầu Âu.
Còn ở Thái Bình Dương
Nhật và Mỹ không phát triển mạnh xe tăng
nên nhu cầu chạy đua lựu đạn an tiên không lớn.
Người Nhật với phong cách tự sát
đã làm ra loại mìn cây
mà tại Việt Nam chúng ta gọi là bom 3 càng.
Cây mìn này có chiều dài khoảng 1,5 mét
và một đầu nổ hit rất lớn
và được người dùng đâm trực tiếp vào chiếc xe tăng cân diện.
Hệ quả là cả người, cả mục tiêu đều bánh sát.
Với sức đục tới 150 ly
thì quý vị có thể tưởng tượng ra rồi đấy
Bom 3 càng được xem là
một trong những loại lựu đạn AT nguy hiểm nhất
trong khi chiến thứ 2.
Khi mà đại chiến thế giới lần thứ 2 kết thúc
việc phát triển các loại lựu đạn AT không còn nữa
một số quốc gia đông ngầu đã thiết kế lại
RPG-6 của Nga và đặt lại các tên khác
ví dụ như là AZ-58K100 của Hungary.
Có thể xem, RKG-3 của Nga
ra mắt vào năm 1950
là thế hệ lựu đạn AT cuối cùng được nghiên cứu và sản xuất
Sau khi được ném, một chiếc dù sẽ boom ra ở đuôi
nhằm giúp nó rơi ổn định lên mục tiêu ở góc 90 độ.
Đầu nổ dạng lõm 0,57kg của RKG-3
có thể đục thủng lớp thép dày 170 ly
hoặc đồng dày 220 ly.
Dường như trong cuộc chiến Iraq gần đây nhất
từ 2003 đến 2011
thì RKG-3 nó được quân nội dạng Iraq sử dụng
để chống lại các phương tiện chiến đấu mặt đất
nhưng không có giáp dày như Satan.
Bộ quân đội Mỹ phải bổ sung
theo lớp giáp chuồng Slat Armor
để cách ly đầu nổ ra khỏi thân xe.
Ngoài ra, còn có xe chiến đấu bộ binh,
tên lửa chống tăng,
rocket chống tăng cầm tay, v.v.
Nhưng mà do thời lượng có hạn
nên video của chúng ta sẽ tạm dừng ở đây.
Nếu quý vị muốn tiếp tục khám phá series
những loại vũ khí chống tăng nổi tiếng trên thế giới
thì hãy bình luận phía bên dưới
kèm theo dòng chữ Phần 2
Và đừng quên like, chia sẻ
và ấn nút theo dõi kênh
để đón xem những video mới nhất từ kiến thức vật sự.
Và bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại.
Chào mừng quý vị và các bạn đã đến với kiến thức quân sự.
Trong phần trước, chúng ta đã bàn về súng trường,
lựu đạn cùng với súng chống tăng
và xe diệt tăng,
những loại vũ khí AT cơ bản nhất.
Còn ở phần này, chúng ta sẽ cùng nhau
bàn nhiều hơn về các loại vũ khí hiện đại
và một trong số đó
chính là rocket chống tăng cầm tay
AT rocket launcher.
Trước khi bắt đầu video,
kiến thức quân sự muốn chia sẻ
với quý vị đôi lời.
Có một chút tranh cãi về cách dùng
hai từ rocket và missile.
Trong tiếng Việt thì cả hai từ trên
đều được dịch là tên lửa
và hay bị dùng lẫn lộ.
Do cơ chế sử dụng ống phóng phản lực
tương tự nhau, nên cả rocket và missile
đều bị nhầm lẫn trong cách
mô tả một loại vũ khí.
Trên thực tế thì rocket thường ám chỉ
những loại đầu đạn phản lực,
có hoặc không có cánh định hướng,
chỉ bay theo một hướng định sẵn.
Và missile là những đầu đạn có cánh
và có thể đổi được hướng
sau khi bắn, có độ chính xác cao hơn.
Ngoài ra,
rocket thường có kích thước nhỏ hơn missile
nên có thể vác bài dễ dàng hơn.
Ở đây, kiến thức quân sự
sẽ dùng từ tên lửa
để ám chỉ missile, còn rocket
là rocket.
Thưa quý vị, chiếc AT rocket
đầu tiên và nổi tiếng trên cả thế giới
là bazooka của Mỹ.
Được thiết kế vào năm 1942,
nhưng thực tế, ý tưởng của bazooka
đã có từ chiến tranh thế giới thứ nhất
và dựa trên những súng phóng
lưu đạn AT.
Tuy vậy, những trái lưu đạn AT đầu lõm
tương đối kém chính xác và cựa ly không xa
nên khó đảm bảo an toàn
cho người sử dụng.
Thế nên quân đội Mỹ đã nghĩ đến một dự án
làm sao để có thể bắn những trái lưu đạn AT
chính xác hơn với cựa ly xa hời.
Và chiếc bazooka M1 đầu tiên
đã được đưa vào thực địa hồi cuối
năm 1942 ở mặt trận Bắc Phi
với đầu đạn M6 có khả năng
xuyên ráp 76 ly
với tốc độ lút phóng đạt 81 mét chân dày.
Tuy vậy,
câu chuyện của bazooka M1 không xuân sẻ
chút nào vì lính Mỹ
tại Bắc Phi không hề được huấn luyện
bài bản cách sử dụng.
Thậm chí, tướng Dwight S. Eisenhower
còn nhận một tin sốc hơn nữa
trước khi hạ cánh xuống đây
là không có một người lính nào nhận được
hướng dẫn sử dụng.
Thật sự, đây là một thiếu sót
cực kỳ tai hại.
Chỉ mãi khi quân đồng minh đánh vào Sicily
của Ý giữa năm 1943,
chỉ vài lực lượng của Mỹ mới dùng
M1A1, bảng cải tiến của M1
để đối đầu với xe tăng Đức.
Tuy vậy, bazooka có
một nhược điểm là khi bắn
nó để lại đuôi lửa lớn và bị giò khói ra
khi trời lạnh, khiến cho
xạ thủ dễ bị lộ vị trí
và quân Đức có thể tấn công ngược lại.
Để vào đó, đuôi lửa
của bazooka còn gây nguy hiểm cho
cả các thành viên còn lại trong tổ bắn.
Theo ghi nhận của quân đội Mỹ,
việc sử dụng bazooka không chỉ rất nguy hiểm
mà còn gần như là tự sạch.
Đến cuối năm 1943,
bazooka có phiên bản cải tiến M9
được trang bị thêm kính ngắm
phản dạng cho phép ngắm mục tiêu tốt hơn.
M9 cũng sử dụng
đầu rocket mới M6A3
cho phép xuyên giáp tới 105 lỷ.
Tuy vậy, quân đội Đức
nhanh chóng nhận ra những mối đe dọa
đến từ bazooka nói riêng
và các loại vũ khí AT khác nói chung.
Nên họ không chỉ tăng thêm độ dày
cho những cỗ xe bọc thép,
mà còn lắp thêm nhiều miếng trắng bọc
của những vị trí hiểm yếu
khiến cho các tổ diệt tăng của Mỹ
gặp thêm nhiều khó khăn hơn.
Tướng George Patton của Mỹ
cũng phải thừa nhận, mục đích của bazooka
không phải để chủ động săn tăng đối phương
mà là lá bài cuối cùng
để ngăn tăng đối phương
Để đảm bảo chức năng bảo vệ này,
tầm bắn của bazooka chỉ nên dưới 27 mét.
Với cơ ly ngắn như trên,
việc dùng bazooka cũng nguy hiểm
không kém dùng lưu đạn AT là bao.
Các báo cáo chiến dịch cho thấy
tỷ lệ xa lìa dương thế
ở các đội diệt tăng bằng bazooka khá cao.
Nhưng chuyện trái ngang của bazooka
không chỉ dừng lại ở đó.
Trong chương trình Landless mà Mỹ hợp tác với Liên Xô,
quân đội Liên Xô đã nhận được
các vũ khí dòm Mỹ sản xuất
để hỗ trợ đánh quân Đức.
Tại mặt trận Đông Âu,
quân Đức đã bắt không ít tù binh Liên Xô
cùng với những cây bazooka
vốn không được huấn luyện cách dùng cài bản.
Nhưng người Đức với trình độ cơ khí vượt bậc
nhanh chóng nhận ra tính hiệu quả
của những cây AT rocket.
Họ đã nghiên cứu được M1
và lập tức cho ra phiên bản tốt hơn cả đối thật.
Không đối khác đó chính là Panzerstreich
nổi tiếng trong năm 1943.
Panzerstreich
không chỉ sớm có mặt ở tiên tuyến
để đối kháng với tăng đồng minh
mà nó còn mạnh mẽ hơn cả M1
hay M1A1.
Với đầu rocket cỡ 88 ly,
sở tốc lúc phóng đạt 110m trên giày,
tầm bắn tới 150m,
khả năng xuyên ráp 100 ly cho phiên bản đầu
và 160 ly cho phiên bản sau.
Panzerstreich
thực sự hoàn toàn vượt trội bazooka.
Ngay cả sĩ quản Mỹ
sau khi thử nghiệm dùng Panzerstreich
năm 4 để so sánh với bazooka
M9 cũng nhận xét
ông sẽ chọn dùng Panzerstreich
để chống tăng hơn chiếc bazooka.
Xong cũng như bazooka.
Vũ khí AT này
để lại đuôi lửa lớn và xỉ khói ra
sau khi bắn, thiết việc lộ vị trí
sau khi tác chiến trở thành mối lưu tâm
cho các đội diệt tăng Đức.
Ở những vị trí bắn có không gian hẹp,
pháo thủ còn phải mang theo mặt nạ phong hơi độc
để tránh khói sinh ra sau khi bắn.
Câu chuyện về bazooka
tiếp tục dở khóc dở cười
khi chính quân đội Mỹ sau đấy lại dựa vào Panzerstreich
để thiết kế ra chiếc super bazooka M20.
Cái AT rocket mới
có đầu đạn 90 ly,
tầm bắn 150 ly
và xuyên được ráp 280 ly.
Bù lại, M20 nhẹ hơn Panzerstreich
nằm từ tới 20%.
Nhờ kinh nghiệm thực chiến
từ M1 lẫn Panzerstreich nằm từ
M20 được chuẩn bị khá kỹ càng
các hướng dẫn sử dụng, gồm cả bảo dưỡng
khi dùng ở môi trường có độ ẩm cao
như tại Việt Nam hay Hàn Quốc.
Nhưng do M20 ra mắt quá trễ
khi thực chiến thứ 2 kết thúc
cộng với việc ngân sách quốc phòng
bị cắt giảm ngay sau đấy
nên số lượng M20 được sản xuất không nhiều.
Các lực lượng của Mỹ lúc đó
chủ yếu được trang bị những cây M1, M9
vốn bị xem cũ kỹ và kém tin cậy.
M1, M9
diệt tăng thì ít
mà để bắn vào các cấu trúc cố định như locust thì nhiều.
Cộng với kích thước lớn,
về sau các phiên bản bazooka
lần lượt bị thay thế bởi súng M67
hay M72L AW
còn nhẹ hơn và có sức công phá cao hơn.
Nhưng loại AT rocket
nổi tiếng nhất không phải
bazooka hay Panzertruck
mà là huyền thoại RPG của Nga.
RPG có tên đầy đủ
là súng phóng lượu đạn AT cầm tay
hoặc đơn giản
là lưu đạn phóng dạng rocket.
Cây RPG đầu tiên là RPG2
được phát triển từ năm 1947
có phần mang âm hưởng
từ cây Panzerfaust được ra mắt
từ năm 1943 của Đức.
Lại nói về Panzerfaust
đây là một vũ khí AT khác
có kích thước nhỏ gọi, bắn được một lần
và chỉ cần mỗi người sử dụng.
Panzerfaust có một phiên bản mini
Faust Patrol với đầu đạn
100 ly, có tầm bắn 30 mét
và 4 phiên bản chuẩn với các cỡ
đầu đạn 106 trên 150 ly
có tầm bắn tương ứng
với tên gọi 30, 60,
100, 150 mét.
Một điểm đáng chú ý là
trong các trận chiến đấu thị
Panzerfaust rất hữu dụng
nhờ kích thước nhỏ gọi và có thể
bắn được ở những không gian chặt hẹp.
Điều mà cả bazooka lẫn Panzertruck
rất khó thực hiện vì
đuôi lửa lớn.
Số lượng tăng bị diệt bởi Panzerfaust tăng lên
nhanh chóng vào cuối cuộc chiến
một phần cũng vì nó dễ chế tạo hơn
các vũ khí AT kích thước lớn khác.
Bản thân quân đồng minh sau khi chiếm được
các khóc vũ khí của Đức cũng tận dụng Panzerfaust
để đối đầu với tăng đối phương
khi tác chiến ở đối thủ.
Bên cạnh đó, quân đội Phần Lan
do mâu thuẫn với Liên Xô
đã được quân đội Đức viện trợ một lượng lượng Panzerfaust
để đối đầu với tăng Liên Xô.
Các thiệt hại to lớn mà Panzerfaust
gây ra cho các binh đoàn T-34
hay IS-2 đã khiến Liên Xô
suy nghĩ nghiêm túc về thứ vũ khí này.
Phần nào thiết kế của RPG-2
được lấy ra từ phiên bản Panzerfaust
250 với tốc độ phóng lên tới
150m trên giấy.
Về bản chất, đầu đạn của loại vũ khí AT này
lẫn RPG-2
và nhiều phiên bản sau này
đều là những quả lưu đạn AT
có đầu nổ lõm.
Nhưng RPG dùng cơ chế phóng rocket
để đưa quả đạn tiếp cận mục tiêu
với tốc độ 84m trên giây,
tầm bắn 150m
và khả năng xuyên giáp 180 lịch.
RPG-2 được sản xuất rộng rãi
và cung cấp cho nhiều nước
có mặt trong rất nhiều cuộc xung đột sau này.
Nhờ giá thành rẻ và dễ chế tạo
nó trở thành một huyền thoại
trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Tại Việt Nam, RPG-2
thường được biết đến dưới tên gọi
B-40.
Thưa quý vị, kể từ RPG-2,
RPG-7, Việt Nam ta thường gọi là B-41
đã đi vào hoạt động từ
1961 và được dùng cho
tới tất ngày nay.
Đầu bền cao, cấu tạo đơn giản,
dễ sử dụng, hiệu quả cao
khiến RPG-7 là một trong những vũ khí
AT được sử dụng rộng rãi nhất thế giới.
Tính cho tới nay,
đã có hơn 9 triệu chiếc RPG-7
được sản xuất.
Chưa tính con số sản xuất lậu, hàng nhái.
Và có thể nói, hầu như mọi quân đội
trên thế giới đều biết sử dụng loại súng này.
Tuy có cùng cỡ nòng 40 ly
như RPG-2, nhưng RPG-7
cũng có nhiều khác biệt.
Nó có phần buồng đốt phình to ở giữa
giúp cho quá trình đốt cháy liều phóng không diễn ra
quá nhanh mà trên để hơn.
Sử dụng được loại thốt đổ mạnh hơn RPG-2.
Do vậy, tuy có chiều dài ngắn
hơn RPG-2, 950
so với 1.200mm,
nhưng áp lực nổ lúc bắn
của RPG-7 lại mạnh hơn.
Do đó, xã thủ RPG-7 được quyên cáo
không bắn quá nhiều quả liên tục
như RPG-2.
Về loại đạn, RPG-7 hiện có
6 loại đạn khác nhau, trong đó có
3 loại để diệt tăng, gồm
PG-7V, PG-7VL,
PG-7VR,
2 loại để chống bộ binh là OG-7V,
TBG-7V, và 1 loại
để phá lô cốt là GSh-7VT.
Tuy khác biệt
về hình dáng và chức năng, nhưng các quả
rocket của chúng với cơ bản đều có 3 phần.
Phần đầu tiên nằm ở phía đuôi
chứa lưu phóng, sẽ giúp quả rocket bay ra
khỏi nòng với số tốc 115m trên giày.
Nhưng để có thể bay xa và
nhanh hơn, phần tiếp theo nằm ở giữa
sẽ được kích hoạt sau khi bay được 10m,
giúp tăng tốc quả rocket lên tới
295m trên giày, và cho phép
nó bay xa tối đa hơn 900m.
Lúc này nếu như quả đạn
bị chật mục tiêu hoặc chưa va chạm vào đâu,
ngòi nổ phụ ở đuôi phần lưu đạn
Xong để bay xa được đến vậy,
các quả rocket của RPG-7 đều có
một bộ cánh bung ra phía đuôi nhằm
ổn định phương bay, và một bộ cánh
ở phía mũi nhằm tạo hiệu ứng xoay.
Bù lại, những chiếc cánh này lại
bị ảnh hưởng của gió trong khi bay
và sẽ bị lệch đi so với phương bắn
ban đầu, đòi hỏi sạ thủ phải có
kinh nghiệm để có thể bắn đúng mục tiêu.
Tuy bay được gần 1km,
nhưng tầm bắn hiệu quả được khuyên cáo cho
tân binh thường chỉ trong 200m độ lạnh.
Và mặc dù tuy đã cổ,
nhưng RPG-7 vẫn là loại vũ khí đáng gờm
vì nó có nhiều loại đạn dùng cho
nhiều mục tiêu khác nhau.
Và mạnh nhất có lẽ là đạn PG-7VR.
Nó có thể xuyên giáp 600 ly,
có bọc giáp phản ứng nổ era,
khoảng 750 ly không bọc.
Ngày nay, tuy con cháu có rất nhiều
như RPG-18, 22, 27, 28, 29, v.v.
Nhưng RPG-7 vẫn được ưa chuộng
trên khắp thế giới.
Đến nỗi khi nhắc tới, người ta thường
liên tưởng ngay tới hình ảnh của RPG-7.
Thật khó hình dung sẽ có loại
AT rocket nói riêng hay vũ khí chống tăng
nói chung nào khác có thể vượt qua
được loại khí tài này.
Phần 2 của series những vũ khí chống tăng
đỉnh nhất trên thế giới sẽ được kết thúc tại đây.
Quý vị hãy để lại phía dưới phần bình luận
tên những vũ khí chống tăng khác
mà quý vị muốn kiến thức cuộc sự màu xẻ.
Cảm ơn quý vị đã theo dõi hết video.
Xin chào và hẹn gặp lại
trong những phần tiếp tiếp.