Lũ Lụt Nghiêm Trọng Ở Vân Nam: Nguy Cơ Cho Việt Nam?

Góc Nhìn Lê Minh
705 Người theo dõi
Thưa quý vị, trong tháng 8 và tháng 9 năm 2024, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã trải qua trận lũ lụt
làm mưa lớn kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khu vực này.
Những trận mưa liên tục và dữ dội đã làm nhiều con sông tràn bờ,
gây ngập trên diện rộng và tạo ra hàng loạt những hậu quả về kinh tế.
Người dân đã phải sơ tán nhanh chóng.
Các khu vực như là Phổ Nhĩ, Đại Lý và Côn Minh đã chịu thiệt hại nặng nề
do lũ quét cường độ lớn và rộng.
Tình trạng ngập lụt hiện tại đã gây tổn hại cho nhiều cơ sở hạ tầng,
bao gồm cầu đường, nhà cửa và các công trình thủy lợi.
Đặc biệt, nhiều hồ chứa và đập nước phải xả khẩn cấp để giảm áp lực nước,
gây lo ngại về khả năng kiểm soát lũ trong thời gian tới.
Tình trạng lũ lụt xảy ra liên tiếp và nghiêm trọng ở Vân Nam trong thời gian này
đã xác định rõ tác động của biến đổi khí hậu đối với khu vực này
và đồng thời cảnh báo về những nguy cơ tương tự có thể xảy ra trong tương lai.
Theo thông tin của Cổng Thông tin Chính phủ Trung Quốc,
tính đến tối ngày 9 tháng 9, tổng cộng 2.130 người từ 714 hộ gia đình
ở huyện Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, Tây Nam Trung Quốc,
đã phải sơ tán do lũ lụt và mưa lớn do tàn dư của cơn bão Yagi gây ra,
với tổng thiệt hại kinh tế trực tiếp ước tính là 2,78 triệu đô la.
Vấn đề nằm ở chỗ trong tình hình hiện tại,
nếu chính phủ cầm quyền là một chính quyền có trách nhiệm,
thì họ sẽ thông báo với quốc gia ở hạ lưu rằng mình sẽ xả lũ cứu đập.
Tuy nhiên thì họ đã không làm như vậy, dẫn tới toàn bộ Việt Nam
vốn nằm ở lưu vực cuối cùng của các con sông lớn chảy từ Trung Quốc
đã bị đặt vào thế bị động hoàn toàn.
Trước tình thế này, các cơ quan đạn diện Việt Nam tại Trung Quốc
đã có công hàm đề nghị phía Trung Quốc quản lý chặt chẽ lưu lượng nước
từ thượng nguồn sông Hồng, chỉ đảo các cơ quan liên quan giảm
hoặc dừng xả nước tại các đập thủy điện thượng nguồn
và thông báo kịp thời về thời điểm, thời gian và khối lượng xả nước theo kế hoạch.
Đồng thời, đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc
và Tổng lãnh sứ quán Việt Nam tại Côn Minh đã làm việc với Bộ Ngoại giao Trung Quốc
và Văn phòng Ngoại vụ tỉnh Vân Nam để đề nghị hỗ trợ các biện pháp
giảm thiểu nguy cơ lũ lụt ở lưu vực sông Hồng.
Theo báo cáo mới nhất từ các cơ quan đại diện, sáng ngày 10 tháng 9,
chính quyền Trung Quốc thông báo hai nhà máy thủy điện thượng nguồn sông Hồng
chưa có kế hoạch xả lũ ngay.
Các nhà máy đã dừng hoạt động để ngăn lũ và tích chữ nước.
Việc chưa xả lũ hai nhà máy này không có nghĩa là không xả lũ
và vấn đề là họ sẽ xả như thế nào, thời gian nào.
Điều này phía Trung Quốc vẫn không nói cụ thể và cũng chẳng có lời đảm bảo phối hợp nào.
Nó cho thấy việc Việt Nam vẫn nằm ở thế bị động.
Đến sáng ngày 11 tháng 9, thống kê sơ bộ cho biết đã có 87 người chết,
70 người mất tích khi Việt Nam chống trọi với lũ lụt hậu bão Yagi.
Hà Nội đang chạy đua để dựng rào chắn khi các con sông đang vật lộn
để xử lý lũ lụt từ cơn bão lớn nhất châu Á trong năm nay.
Phần lớn miền bắc đất nước đang trong tình trạng báo động lũ lụt
khi cơ quan quản lý thiên tai của chính phủ báo cáo rằng
tình đến chiều thứ ba ngày 10 tháng 9 đã có thêm 752 người bị thương do siêu báo.
Xin lưu ý, thiệt hại đang là ước tính sơ bộ.
Con số chính xác hiện chưa được thống kê tri tiết.
Tình hình mưa nặng hạt vẫn đang tiếp diễn, nước vẫn tiếp tục dâng lên
và các con đê đang được ra cố.
Nhìn vào mực nước của các con sông ở Việt Nam có thể thấy chưa có dấu hiệu nước rút.
Riêng Thái Bình, tỉnh nằm ở khu vực cuối cùng của sông Hồng trước khi đổ ra biển,
hiện cũng có báo cáo về tình hình trên các con sông.
Như chúng ta đã biết, địa phận tỉnh Thái Bình chủ yếu được bao quanh bởi các con sông lớn,
bao gồm sông Hồng ở phía Bắc, sông Luộc ở phía Tây và sông Hóa ở phía Đông Bắc.
Tỉnh vốn nổi tiếng với địa hình băng phẳng, hệ thống sông ngòi chăng trịt
và là một trong những vùng nông nghiệp quan trọng của Việt Nam.
Tuy nhiên do ở hạ lưu cuối cùng nên tỉnh này cũng không tránh khỏi ngập lụt.
Tình trạng ngập lụt tại Thái Bình và các khu vực phía Bắc Việt Nam
đang rất nghiêm trọng do ảnh hưởng của siêu bão Yagi.
Tại Thái Bình, nước sông đã dâng cao, tràn ngập diện tích, một số khu vực ven sông đã bị nhấn chìm
và nhiều ngôi nhà cùng cơ sở hạ tầng bị tổn hại nặng nề.
Toàn khu vực đang trong tình trạng cảnh báo cao độ về lũ lụt
khi mực nước các con sông lớn tiếp tục tăng lên.
Các tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất còn bao gồm Cao Bằng, Lào Cai và Yên Bái.
Ngoài ra cơn bão còn gây hư hại hàng loạt nhà dân chủ yếu ở các tỉnh ven biển như Quảng Ninh.
Đến thời hiểm ghi hình, có thông báo khẩn theo văn bản số 191 BC SNGV ngày 10 tháng 9 năm 2024
của Sở Ngoại vụ Hà Giang và nguồn thông tin từ Văn phòng Ngoại sự Châu Văn Sơn Trung Quốc.
Phía Trung Quốc sẽ thực hiện xả lũ các thủy điện vào hồi 11h ngày 11 tháng 9 năm 2024 giờ Việt Nam tới Sông Lô.
Điều này sẽ dẫn tới Sông Lô, như nhiều con sông khác, có thể bị ngập lụt khi lượng nước
từ các con sông phụ lớn như từ các thủy điện của Trung Quốc đổ về.
Điều này có thể gây thiệt hại cho nhà cửa, đất đai và cơ sở hạ tầng trong khu vực.
Ngập lụt có thể làm hư hại mùa màng và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
Các tỉnh như Tiên Quang, Phú Thọ và một phần của Yên Bái có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng
nếu lượng nước xả lũ lớn.
Một tin tức đáng chú ý là khi Gia Ghi vừa qua, bão Feddy lại tới.
Bản tin dự báo-bão của Cục Quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines cho biết,
vào hồi 2 giờ ngày 10 tháng 9, vị trí tâm áp thấp thứ nhất ở vào khoảng 25,8 độ Vĩ Bắc,
125,6 độ Kinh Đông, cách Itbayat, Batanes khoảng 680 km về phía Đông Bắc, di chuyển về phía Tây.
Áp thấp này có khả năng mạnh lên thành bão và sẽ được đặt tên là Feddy.
Nhìn trên bản đồ theo đường đi của cơn bão này, rất có thể là nó sẽ đi qua Philippines
và tác động tới một nửa miền Nam của Việt Nam.
Sau cơn bão Feddy là cơn bão Giene.
Như vậy có thể thấy, tình hình mưa lũ năm nay rất phức tạp và người ta phỏng đoán rằng
các trận bão liên tiếp diễn ra và cường độ thì cứ tăng dần.
Cổ nhân có dạy, thời thịnh thế chữ đồ cổ, thời loạn thế mua vàng kim,
thời mạt thế phải tu hành.
Tuy nhiên ở thời điểm này, vàng kim cũng không cứu nổi con người,
và nơi nương tựa cho con người vững chắc nhất là tìm đến đức tin của mỗi người.
Đó là cách để giữ được bình an trong tâm.
Chúng tôi cầu mong những người dân ở vùng thiên tai sẽ vượt qua được giai đoạn này.
Xin chia sẻ những vất vả đến với những người đang đứng ở tuyến đầu trong cứu hộ cứu nạn.
Chúng ta mong rằng, ở thời khắc giá trị vật chất, tiền bạc không thể mang lại
cho chúng ta được sự an toàn tính mạng, thì hy vọng rằng,
tình người và lòng thiện lương trong mỗi chúng ta đều được thắp sáng.
Bây giờ thì xin được chuyển sang các phần bình luận khác.
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phan Van Giang thăm Mỹ
Nhận lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Lloyd Austin,
đoàn đại biểu cấp cao Bộ Quốc phòng Việt Nam do Đại tướng Phan Van Giang,
Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bi Thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu,
thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 6 đến 11 tháng 9.
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã đến Washington DC hôm 8 tháng 9
trong chuyến thăm chính thức lần đầu tiên của ông tới Hoa Kỳ
trên cương vị người đứng đầu Bộ Quốc phòng Việt Nam.
Được biết, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phan Van Giang thăm Hoa Kỳ
để tăng cường hợp tác an ninh song phương trong bối cảnh căng thẳng gia tăng ở Biển Đông.
Khi chúng tôi đọc về những báo cáo của cả trên các phương tiện truyền thông
lẫn là thông tin của Bộ Quốc phòng Mỹ, hầu hết đều có những cách diễn đạt mơ hồ,
mà không thấy có những điểm nhấn mạnh hay nổi bật gì để công bố.
Mặc dù vậy, chuyến thăm của Bộ trưởng Phan Van Giang tới Hoa Kỳ
đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong quan hệ quốc gia giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Vậy, hợp tác quốc phòng Việt Mỹ sẽ đi theo hướng nào?
Một là tăng cường hợp tác an ninh và quốc phòng.
Hai nước đang đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực an ninh quốc phòng,
đặc biệt là trong các lĩnh vực an ninh biển, phòng chống khủng bố và cứu trợ, cứu nạn.
Điều này không chỉ nhằm đảm bảo an ninh khu vực,
mà còn góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền quốc gia,
nhất là trong mối cảnh biển Đông ngày càng có nhiều căng thẳng hơn.
Hai là thúc đẩy mạnh hợp tác kỹ thuật và quân sự.
Một trong những lĩnh vực chính của hợp tác quốc phòng giữa hai quốc gia
là việc tăng cường chia sẻ công nghệ quân sự và hỗ trợ kỹ thuật.
Mỹ đã và đang cung cấp các thiết bị quân sự hiện đại cho Việt Nam,
như tàu tuần tra, máy bay không người lái và các hệ thống thông tin liên lạc,
giúp Việt Nam nâng cao khả năng tự vệ.
Ba là đào tạo và huấn luyện quân sự.
Hợp tác trong đào tạo và huấn luyện quân sự cũng là một phần quan trọng của quan hệ quốc gia.
Các thí nghiệm chương trình đào tạo, trao đổi kinh nghiệm và kỹ năng quân sự do hai bên
đã được tăng cường sức mạnh, giúp nâng cao trình độ và khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam.
Bốn là đối thoại và hợp tác quốc tế.
Cả hai nước đều có thể thực hiện cam kết trong công việc duy trì đối thoại quốc phòng thường xuyên,
tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế và hỗ trợ lẫn nhau trong các diễn đàn đa phương về an ninh quốc phòng.
Điều này giúp củng cố chiến lược và xây dựng một nền tảng vững chắc hợp lý giữa hai quốc gia.
Tóm lại, chuyến thăm của Bộ trưởng Phan Văn Giang tới Hoa Kỳ có thể thể hiện là quyết tâm của Việt Nam
trong công việc làm sâu sắc thêm mối quan hệ quốc phòng với Mỹ,
đồng thời tiếp tục hướng đến mục tiêu bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia và hòa bình khu vực.
Việc này cũng có thể gửi một tín hiệu rõ ràng đến các cường quốc khác như Trung Quốc
về việc Việt Nam và Mỹ đang củng cố quan hệ và tăng cường hợp tác quốc phòng.
Nhưng việc Hoa Kỳ và Việt Nam có thể đối đầu với Trung Quốc hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
bao gồm sức mạnh quân sự, chính sách ngoại giao và hỗ trợ cộng đồng quốc tế.
Hoa Kỳ có lợi thế về sức mạnh quân sự toàn cầu, với lực lượng hải quân mạnh mẽ
và hiện diện rộng rái ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Hợp tác quốc phòng giữa Mỹ và Việt Nam ngày càng được tăng cường,
đặc biệt trong các lĩnh vực như là an ninh biển và kỹ thuật quân sự.
Việt Nam, mặc dù có quân đội lớn và nhiều kinh nghiệm chiến đấu,
vẫn phải đối mặt với những công thức nhỏ trong việc hiện đại hóa lực lượng
và bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông trước sức ép từ Trung Quốc.
Trên mặt trận ngoại giao, cầu Hoa Kỳ và Việt Nam đều sử dụng ngoại giao
như một công cụ quan trọng để đối phó với Trung Quốc.
Mỹ thì thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở,
trong đó Việt Nam là đối tác quan trọng.
Việc duy trì quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác trong khu vực
và tăng cường hợp tác quốc tế là một phần quan trọng của chiến lược này.
Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách ngoại giao đa phương hóa,
đa dạng hóa quan hệ quốc tế để tránh bị phụ thuộc vào một quốc gia duy nhất,
đồng thời tăng cường quan hệ với các cường quốc khác như Nhật Bản,
Ấn Độ và các nước ASEAN.
Sự hỗ trợ từ các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới,
đặc biệt là các cường quốc như Nhật Bản, Australia và các quốc gia châu Âu,
có thể giúp tăng cường sức mạnh của Việt Nam và Hoa Kỳ
trong việc đối lập với các công thức từ Trung Quốc.
Mặc dù vậy, Trung Quốc lại có sức mạnh kinh tế lớn và ảnh hưởng toàn cầu,
đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á.
Việc Mỹ và Việt Nam tranh luận với Trung Quốc không chỉ đòi hỏi sức mạnh quân sự,
mà cần có các biện pháp kinh tế như các thỏa thuận thương mại
và đầu tư chiến lược để giảm thiểu sự phụ thuộc vào Bắc Kinh.
Tuy nhiên, việc đối đầu với Trung Quốc là một công thức lớn
và cần có sự phân phối hợp lý giữa các liên kết quốc gia.
Mặc dù Hoa Kỳ và Việt Nam có thể tăng cường khả năng đối đầu với Trung Quốc,
việc này đòi hỏi một chiến lược toàn diện
bao gồm cả quân sự, ngoại giao, kinh tế và hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế.
Có một thực tế thế này, mặc dù Mỹ và Việt Nam đã có mối quan hệ
hợp tác mạnh mẽ trong nhiều năm qua,
nhưng Việt Nam vẫn chưa trở thành đồng minh chính thức của Mỹ.
Giữa hai quốc gia thì chưa thực sự có lòng tin chiến lược. Tại sao?
Cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn là một phần nhạy cảm trong lịch sử của cả hai quốc gia.
Mặc dù quan hệ đã được cải thiện, những ký ức và ảnh hưởng của quá khứ
vẫn có thể ảnh hưởng đến cách hai nước nhìn nhận nhau.
Quan điểm đối ngoại của Việt Nam vẫn duy trì chính sách độc lập
và không liên kết chặt chẽ với bất kỳ quốc gia nào.
Chính sách này nhằm đảm bảo an ninh và ổn định của quốc gia,
cũng như giữ vững hoạt động trong quan hệ quốc tế.
Việt Nam có xu hướng duy trì sự cân bằng giữa các cường quốc trong khu vực,
như là Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Việc trở thành đồng minh chính thức của Mỹ có thể làm gia tăng căng thẳng với Trung Quốc,
một quốc gia có ảnh hưởng lớn và quan trọng đối với Việt Nam về nhiều mặt.
Mặc dù hai quốc gia có nhiều điểm chung về chiến lược và hợp tác kinh tế,
lợi ích và mối quan hệ có thể không hoàn toàn trung khớp.
Việt Nam có thể cân nhắc các yếu tố khác nhau trong quan hệ quốc tế
khi quyết định hợp tác với các đối tác.
Bất luận như thế nào thì Việt Nam vẫn có vai trò rất quan trọng
đối với bàn cờ chiến lược của Mỹ.
Đã đến lúc Mỹ nên từ bỏ chính sách đối ngoại bập mờ với Việt Nam.
Họ cần có điều chỉnh mạnh mẽ và bền vững.
Nếu Việt Nam có xu hướng lệch sang Hoa Kỳ, điều này có thể tạo ra những thay đổi
quan trọng trong bàn cờ địa chính trị ở khu vực Đông Nam Á và toàn cầu.
Việt Nam tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ,
có thể làm thay đổi sự cân bằng quyền lực trong khu vực Đông Nam Á.
Điều này có thể dẫn đến việc Trung Quốc cảm thấy bị đe dọa hơn
và có thể điều chỉnh chiến lược của mình tại Biển Đông,
cũng như trong các vấn đề khu vực khác.
Nếu Việt Nam lệch sang Hoa Kỳ,
điều này có thể dẫn đến việc Hoa Kỳ gia tăng sự hiện diện quân sự
hoặc hợp tác quốc phòng tại Việt Nam.
Điều này có thể làm tăng sức mạnh quân sự của Mỹ trong khu vực,
đồng thời tạo ra sự cạnh tranh gia tăng với Trung Quốc.
Việt Nam có thể trở thành một phần của liên minh mới hoặc nâng cao
sự hợp tác trong các liên minh hiện có với Hoa Kỳ.
Điều này có thể bao gồm các liên minh trong khu vực như Quát,
gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Úc, hoặc các cơ chế hợp tác quốc phòng khác.
Việc Việt Nam nghiêng về phía Hoa Kỳ có thể tạo ra một làn sóng tác động
đến các quốc gia khác trong khu vực,
làm tăng cường hoặc làm thay đổi các mối quan hệ của họ với cả Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Các quốc gia như Thái Lan, Singapore và Philippines
có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ để phản ứng với sự thay đổi này.
Việt Nam có thể hưởng lợi từ việc gia tăng hợp tác kinh tế và thương mại với Hoa Kỳ.
Điều này có thể dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc kinh tế khu vực và toàn cầu,
khi các chuỗi cung ứng và đầu tư có thể chuyển hướng để đáp ứng nhu cầu của thị trường Mỹ.
Sự thay đổi trong mối quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ
cũng có thể có tác động đến các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu,
an ninh mạng và các thách thức toàn cầu khác,
khi Hoa Kỳ và Việt Nam có thể hợp tác chặt chẽ hơn trong các lĩnh vực này.
Tóm lại, việc Việt Nam lệch sang Hoa Kỳ sẽ có tác động sâu rộng
đến địa chính trị khu vực và toàn cầu, với những thay đổi trong cân bằng quyền lực,
quan hệ quốc phòng, kinh tế và các vấn đề toàn cầu.
Chỉ cần kéo được Việt Nam về phía mình thì Mỹ sẽ có một số lợi thế đáng kể
trong việc kiềm chế Trung Quốc và đối phó với Nga.
Như chúng ta đã biết, Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á,
gần Biển Đông, nơi có nhiều tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh.
Hợp tác quân sự chặt chẽ với Việt Nam sẽ giúp Mỹ gia tăng sự hiện diện quân sự
trong khu vực, từ đó cân bằng sức mạnh và giảm ảnh hưởng của Bắc Kinh.
Việt Nam có thể cung cấp thông tin và tình báo quan trọng về các hoạt động
của Trung Quốc trong khu vực.
Sự hợp tác này sẽ giúp Mỹ nắm bắt tốt hơn các động thái của Trung Quốc
và có các phản ứng phù hợp.
Ngoài ra, với sự ủng hộ của Việt Nam, Mỹ có thể tăng cường các liên minh
và đối tác ở trong khu vực Đông Nam Á, từ đó xây dựng một mạng lưới phòng thủ
mạnh mẽ hơn để đối phó với ảnh hưởng của Trung Quốc.
Việt Nam có thể giúp Hoa Kỳ giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc trong chuỗi cung ứng toàn cầu
nhờ vào sự hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế và thương mại.
Mặt khác, sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có thể tạo ra một lực lượng quân sự
khu vực mạnh mẽ hơn, làm giảm khả năng của Nga trong việc mờ rộng ảnh hưởng của mình
ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Một Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn dưới sự hỗ trợ của Hoa Kỳ
có thể giúp giảm ảnh hưởng kinh tế của Nga trong khu vực này,
làm giảm khả năng Nga sử dụng các công cụ kinh tế để can thiệp vào chính trị và an ninh.
Với sự hỗ trợ của Việt Nam, Hoa Kỳ có thể tạo ra một mặt trận đồng thời
để đối phó với Nga ở nhiều khu vực khác nhau, từ châu Âu đến châu Á,
làm giảm khả năng của Nga trong việc phân tán nguồn lực và ảnh hưởng của mình.
Sự hợp tác chặt chẽ giữa Việt Nam và Mỹ có thể tạo ra một khối đồng minh mạnh mẽ
giúp cải thiện khả năng phối hợp trong các vấn đề quốc tế và tăng cường áp lực lên Nga
trong các cuộc đàm phán hoặc các vấn đề toàn cầu.
Tóm lại, việc tăng cường quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có thể cung cấp những lợi thế chiến lược
quan trọng trong việc kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc và đối phó với Nga,
từ việc tăng cường hiện diện quân sự đến việc cải thiện sự phối hợp chính trị và kinh tế.
Vấn đề nằm ở chỗ, chính Việt Nam cũng hoài nghi về mức độ tin tưởng đối với Hoa Kỳ
do lo ngại sự phụ thuộc sẽ đánh mất chủ quyền.
Cũng có một phía ý kiến thì cho rằng nước xa không thể cứu được lửa gần,
dựa vào một bên để đối phó vi gã to con láng giềng là một rủi ro lớn.
Khi Bắc Kinh ngày càng ô ép Thái quá, Việt Nam đã thể hiện thiện trí mở lòng với các đối tác khác,
nhưng Hoa Kỳ lại lấy điều này làm điều kiện để ràng buộc trong đối thoại,
cho nên mối quan hệ giữa hai bên vẫn ở mức độ nửa vời.
Thực tế, mọi mối quan hệ đối tác đều phải xây dựng dựa trên lòng tin và uy tín của mỗi lời cam kết,
nhưng chính uy tín của nước Mỹ cũng đang bị chính quyền đảng Dân Chủ làm tổn hại trong 4 năm nay.
Thì liệu rằng Hoa Kỳ sẽ có được Việt Nam,
hay Nga và Trung Quốc sẽ ngồi vào chiếc ghế mà Mỹ bỏ chống ở thời điểm hiện tại?
Còn quá sớm để đưa ra kết luận, và chúng ta sẽ chờ đợi những diễn biến tiếp theo.
Đến đây, chương trình ngày hôm nay của chúng tôi cũng xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị để lại bình luận ở phần dưới.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
