Vì Sao Trung Quốc Dùng Kênh Đào Phù Nam Để Vô Hiệu Hóa Cảng Cam Ranh Việt Nam?

Góc Nhìn Lê Minh
705 người theo dõi
Thưa quý vị, như chúng ta đã biết, hồi đầu tháng 8, Thủ tướng Campuchia Hun Manet đã chủ trì một buổi lễ khởi công xây dựng dự án kênh đào Phú Nam-Tây Châu
nối thủ đô không rắp biển Phnom Penh với Vịnh Thái Lan.
Nếu hoàn thành thành công, kênh đào này sẽ cắt giảm 70% lượng tàu thuyền qua nước láng giềng Việt Nam
và tăng doanh thu của chính phủ thêm 88 triệu đô la mỗi năm để hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của Campuchia.
Nếu nhìn nông, thì có vẻ như là vì lợi ích Campuchia, nhưng nhìn sâu hơn thì chúng ta thấy là Trung Quốc không ngẫu nhuyên
lại tài trợ cho dự án trị giá 1,7 tỷ đô la này.
Ngỡ ngàng trước cách Trung Quốc vô hiệu hóa cảng Cam Ranh
Trong những video trước đây, chúng ta đã từng nói với nhau về việc kênh đào Phú Nam là một bàn thắng
mà ở đó Trung Quốc sẽ hưởng lợi về mặt địa chiến lược.
Đầu tiên thì kênh đào sẽ cho phép Bắc Kinh tiếp cận Vịnh Thái Lan trực tiếp từ Trung Quốc
Vì Sơn Mây Công bắt nguồn từ tỉnh Tây Tạng của Trung Quốc, Bắc Kinh không chỉ có thể đưa tàu thương mại
mà cả tàu chiến đi qua Myanmar, Thái Lan, Lào và Campuchia, sau đó đi qua kênh đào Phú Nam Tê Châu
khi nó đã hoàn thành và vào Vịnh Thái Lan.
Mặc dù có những lý do chính đáng để tin rằng Bắc Kinh sẽ gặp khó khăn khi điều hướng kênh đào mới bằng quân đội của mình.
Chẳng hạn, các nước trong khu vực Đông Nam Á có thể phản đối mạnh mẽ sự hiện diện quân sự của Trung Quốc
tại kênh đào Phú Nam, đặc biệt là nếu Bắc Kinh tìm cách sử dụng kênh đào này cho mục đích quân sự.
Các quốc gia như Việt Nam, Thái Lan và Philippines có thể coi điều này là một mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.
Mặc dù Campuchia có mối quan hệ gần gũi với Trung Quốc, việc Bắc Kinh sử dụng kênh đào cho mục đích quân sự
có thể gây rạc tranh cãi và làm ra tăng căng thẳng trong nội bộ chính trị Campuchia,
đặc biệt là nếu có sự phản đối từ các nước láng giềng và cộng đồng quốc tế.
Hay nhiều dự án xây đập của Trung Quốc dọc theo sông Mekong và mực nước và lưu lượng có khả năng giảm do hệ thống đập này,
cũng như nhu cầu phá gành thác để tàu có mốn nước sâu hơn có thể di chuyển.
Điều này đồng nghĩa với việc duy trì một sự hiện diện quân sự tại kênh đào Phú Nam sẽ đòi hỏi chi phí đáng kể,
vão gồm chi phí về nhân lực, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng.
Điều này có thể làm tăng gánh nặng tài chính cho Trung Quốc, đặc biệt trong bối cảnh Bắc Kinh
đang phải đối mặt với nhiều thách thức kinh tế trong nước.
Sự hiện diện quân sự của họ tại kênh đào có thể khiến khu vực trở thành mục tiêu trong trường hợp xảy ra xung đột quân sự.
Điều này có thể làm tăng rủi ro cho các căn cứ và tàu chiến của Trung Quốc,
đặc biệt là nếu các quốc gia khác tìm cách phong tỏa hoặc tấn công kênh đào.
Hoặc Mỹ và các đồng minh trong khu vực như Nhật Bản và Úc có thể tăng cường sự hiện diện quân sự
và tiến hành các hoạt động tự do hàng hải để thách thức sự kiểm soát của Trung Quốc tại kênh đào này.
Điều này có thể làm tăng nguy cơ đối đầu quân sự và làm phức tạm hóa chiến lược của Bắc Kinh.
Các quốc gia khác có thể tìm cách hợp tác với các nước ASEAN để đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc.
Điều này có thể tạo ra một liên minh chống lại ảnh hưởng quân sự của Bắc Kinh tại khu vực.
Kênh đào Phú Nam nằm trong một khu vực nhạy cảm về địa chính trị,
nơi có nhiều tranh chấp lãnh thổ và lợi ích chiến lược trồng chéo.
Việc Bắc Kinh cố gắng sử dụng kênh đào cho mục đích quân sự có thể làm gia tăng căng thẳng và gây bất ổn khu vực,
ảnh hưởng đến các lợi ích kinh tế và chiến lược dài hạn của Trung Quốc.
Những yếu tố này cho thấy rằng mặc dù kênh đào Phú Nam có thể mang lại lợi ích chiến lược cho Trung Quốc,
Bắc Kinh có thể phải đối mặt với nhiều thách thức khi cố gắng sử dụng kênh đào này cho các mục đích quân sự.
Thế nhưng, không có thách thức nào trong số này nhất thiết là không thể vượt qua trong dài hạn.
Điều này có nghĩa là lực lượng hàng hải của Trung Quốc, dù là hải quân, lực lượng bảo vệ bờ biển
hay dân quân đánh cá có thể tận dụng sự hiện diện mới trên sông của họ để triển khai vào khu vực
với 3 mục tiêu chính trong đầu.
Lợi thế thứ 2 của dự án kênh đào là nó sẽ loại bỏ nhu cầu của lực lượng hải quân Trung Quốc
phải đi qua Biển Đông và quanh Đông Dương để tiếp cận Vịnh Thái Lan.
Điều này không chỉ nhanh hơn mà còn hạn chế khả năng các lực lượng đối địch thách thức các đợt triển khai của Trung Quốc.
Nhưng Vịnh Thái Lan hóa ra không phải là đích đến cuối cùng của Bắc Kinh.
Quan trọng nhất đó là kênh đào sẽ cho phép Trung Quốc thiết lập sự hiện diện ở sườn phía Tây của Việt Nam
thay vì chỉ ở phía Đông của Biển Đông.
Điều này thực sự có thể làm một sự thay đổi cục diện địa chiến lược
vì nó sẽ làm giảm giá trị của căn cứ hải quân Vịnh Cam Ranh trên bờ biển phía Đông Nam của Việt Nam
cũng như các đảo nhân tạo mới được Hà Nội xây dựng ở Biển Đông.
Có 5 lý do giải thích cho nhận định này.
Một là tuyến đường hàng hải mới thay thế.
Kênh đào Phú Nam sẽ cung cấp một tuyến đường hàng hải mới nối liền ở nội dương với Biển Đông,
bỏ qua nhiều tuyến đường truyền thống.
Điều này có thể làm giảm lưu lượng tàu thuyền qua Biển Đông và vùng biển gần Vịnh Cam Ranh,
làm giảm tầm quan trọng của căn cứ này như một điểm kiểm soát chiến lược cho tuyến đường biển quan trọng,
hay là giảm sự phụ thuộc vào các điểm chiến lược của Việt Nam.
Với việc các tàu có thể chọn tuyến đường qua kênh đào Phú Nam thay vì đi qua Vịnh Cam Ranh hoặc Biển Đông,
giá trị chiến lược của các điểm kiểm soát này trong việc giám sát và bảo vệ tuyến đường biển sẽ giảm đi.
Điều này có thể làm giảm khả năng của Việt Nam trong việc ảnh hưởng đến các hoạt động hải quân và thương mại khu vực.
Ba là gia tăng khả năng kiểm soát của Trung Quốc.
Nếu Trung Quốc có thể kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với kênh đào Phú Nam,
họ có thể sử dụng nó để giảm sự phụ thuộc vào các tuyến đường biển đi qua các khu vực do Việt Nam kiểm soát.
Điều này làm giảm tầm quan trọng chiến lược của các căn cứ hải quân và đảo nhân tạo của Việt Nam,
đồng thời gia tăng khả năng của Trung Quốc trong việc triển khai sức mạnh trong khu vực.
Bốn là truyền hướng lợi ích kinh tế và quân sự.
Khi kênh đào Phú Nam hoạt động, các tuyến đường biển quan trọng có thể truyền hướng về phía Nam,
gần hơn với Campuchia và xa hơn khỏi Việt Nam.
Điều này có thể làm suy yếu tầm quan trọng của Vịnh Cam Ranh như một trung tâm quân sự và hậu cần,
đặc biệt khi Việt Nam đã đầu tư mạnh vào các cơ sở hạ tầng này.
Năm là thách thức đối với an ninh quốc gia của Việt Nam.
Kênh đào Phú Nam có thể tạo ra các thách thức mới đối với an ninh quốc gia Việt Nam,
khi Trung Quốc có thể dễ dàng triển khai lực lượng hải quân từ kênh đào vào biển Đông,
mà không cần phải qua các vùng nước do Việt Nam kiểm soát.
Điều này có thể làm suy yếu khả năng phòng thủ của Việt Nam và giảm tầm quan trọng
của các căn cứ hải quân và đảo nhân tạo.
Như chúng ta đã biết, Trung Quốc có thể sử dụng kênh Phú Nam để gây áp lực lên Việt Nam
trong các tranh chấp ở biển Đông.
Khả năng triển khai lực lượng nhanh chóng từ kênh đào sẽ tạo ra một mối đe dọa trực tiếp
đối với an ninh quốc gia của Việt Nam.
Điều này buộc Việt Nam phải phân tán và mở rộng nguồn lực quân sự của mình,
làm suy yếu khả năng phòng thủ tập thể.
Mặc dù Vịnh Cam Ranh là một trong những cảng nước sâu tốt nhất trong khu vực,
hiện đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hậu cần và tiếp tế cho các hoạt động quân sự và thương mại của Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu kênh đào Phú Nam trở thành tuyến đường chính cho giao thông hàng hải,
vai trò này có thể bị giảm đi, làm suy yếu khả năng cung cấp hậu cần của Việt Nam trong các tình huống khẩn cấp.
Những yếu tố này cho thấy kênh đào Phú Nam có tiềm năng làm giảm đáng kể khả năng phòng thủ của Việt Nam,
cũng như tầm quan trọng chiến lược của các căn cứ hải quân và đảo nhân tạo mà Việt Nam đã đầu tư xây dựng.
Như vậy, có thể thấy phía đông của Việt Nam thì Trung Quốc gian trật ở biển đông,
phía tây thì kiểm soát Lào, Campuchia để đặt Việt Nam vào thế gọng kìm.
Để vô hiệu hóa việc quân sự hóa kênh đào Phú Nam, Việt Nam có thể thực hiện một số chiến lược như
Liên minh khu vực
Việt Nam có thể tăng cường hợp tác với các nước ASEAN và các cường quốc bên ngoài khu vực như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Độ
để tạo ra một liên minh nhằm đối phó với bất kỳ mối đe dọa quân sự nào từ kênh đào Phú Nam.
Hợp tác trong việc chia sẻ thông tin tình báo và tổ chức các cuộc tập trận chung có thể giúp tăng cường khả năng phòng thủ.
Hoặc là Việt Nam có thể tăng cường đầu tư vào các hệ thống phòng không, radar và công nghệ giám sát
để theo dõi và phản ứng nhanh với bất kỳ hoạt động quân sự nào liên quan đến kênh đào.
Đặc biệt, việc phát triển các hệ thống tên lửa phòng thủ và chống hạm có thể giúp bảo vệ lãnh hải Việt Nam
trước các mối đe dọa từ hướng kênh đào.
Hay có thể sử dụng luật pháp quốc tế bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển Anklos
để ngăn chặn việc quân sự hóa kênh đào.
Việc đưa các tranh chấp ra các tòa án quốc tế hoặc các diễn đàn quốc tế có thể gây áp lực lên Trung Quốc
hoặc bất kỳ quốc gia nào khác có ý định quân sự hóa kênh đào.
Quan trọng hơn là Việt Nam có thể nâng cao năng lực hải quân của mình để đảm bảo sự hiện diện liên tục
trong các vùng biển chiến lược, đặc biệt là những khu vực gần kênh đào Phú Nam.
Điều này có thể bao gồm việc mua sắm tàu ngầm, tàu chiến hiện đại và tăng cường năng lực tuần tra biển.
Đồng thời, có thể tập trung phát triển các căn cứ quân sự chiến lược như là Vịnh Cam Ranh
và các đảo nhân tạo ở Biển Đông để đảm bảo chúng có khả năng đối phó với bất kỳ mối đe dọa nào từ kênh đào Phú Nam.
Các căn cứ này nên được trang bị đầy đủ vũ khí và hệ thống phòng thủ hiện đại.
Bên cạnh đó, Việt Nam có thể tận dụng quan hệ kinh tế với Campuchia để gây ảnh hưởng và giảm bớt khả năng
kinh tế ở Campuchia, có thể giúp xây dựng quan hệ đối tác chặt chẽ và ngăn chặn sự can thiệp quân sự từ các quốc gia khác.
Việt Nam có thể đẩy mạnh nỗ lực tạo ra nhận thức về các rủi ro của việc quân sự hóa kênh đào Phú Nam
thông qua các diễn đàn quốc tế, truyền thông và các tổ chức phi chính phủ.
Điều này có thể tạo ra sức ép quốc tế đối với bất kỳ hành động quân sự nào liên quan đến kênh đào.
Nhìn chung, Việt Nam cần một chiến lược toàn diện và đa chiều để vô hiệu hóa các mối đe dọa tiềm tàng từ kênh đào Phú Nam,
đảm bảo an ninh quốc gia và giữ vững vị thế chiến lược trong khu vực.
Như chúng ta đã biết, Trung Quốc đã triển khai tàu chiến tới Campuchia.
Điều này càng làm tăng nhận thức rằng kênh đào Phú Nam hay các dự án khác của Bắc Kinh không đơn thuần là mục tiêu kinh tế,
mà ẩn sau nó là tham vọng quân sự.
Nếu chúng ta nhìn trên một bức tranh lớn, thì sự tham gia của Trung Quốc vào kênh đào Phú Nam Tây Châu
và căn cứ hải quân RIM là hai ví dụ chính cho thấy Vịnh Thái Lan có thể đang dần trở nên nổi bật hơn
trong bối cảnh cạnh tranh quyền lực giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đang ngày càng gia tăng.
Vịnh Thái Lan có thể là điểm nóng cạnh tranh quyền lực Mỹ-Trung.
Quý vị biết đấy, Vịnh Thái Lan là một phần quan trọng của tuyến đường hàng hải chính đối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Nó đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa từ châu Á sang châu Âu và ngược lại.
Mỹ có lợi ích trong việc đảm bảo an toàn và tự do hàng hải qua khu vực này.
Các cảng trong khu vực, như là cảng Băng Cốc ở Thái Lan, là các trung tâm giao thương quan trọng.
Việc duy trì sự ổn định trong khu vực có thể ảnh hưởng đến chuỗi khu hướng toàn cầu và các hoạt động kinh tế của Mỹ.
Việc kiểm soát và bảo vệ các tuyến đường hàng hải ở Vịnh Thái Lan có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của Mỹ
đối với các khu vực chiến lược khác ở Đông Á và Đông Nam Á.
Trên thực tế, ngày nay là Trung Quốc đã hoạt động quân sự ở Vịnh Thái Lan và các dự án trong tương lai
có thể mang lại thêm nhiều cơ hội để tham gia sâu hơn vào đó,
mang lại lợi thế địa chiến lược thực sự chống lại Hoa Kỳ và các nước láng giềng của Bắc Kinh.
Hơn nữa, Vịnh Thái Lan nằm gần các khu vực có sự cạnh tranh địa chính trị lớn,
đặc biệt là với sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Nam Á.
Mỹ có lợi ích trong việc đảm bảo rằng khu vực này không bị ảnh hưởng quá mức bởi các cường quốc khác.
Thế nhưng, một thực tế trước mũi Hoa Kỳ là Trung Quốc đã hoạt động quân sự ở Vịnh Thái Lan
và các dự án trong tương lai có thể mang lại thêm nhiều cơ hội để tham gia sâu hơn vào đó,
mang lại lợi thế địa chiến lược thực sự chống lại Hoa Kỳ và các nước láng giềng của Bắc Kinh.
Nói thẳng ra, Trung Quốc đang đe dọa đồng minh của Hoa Kỳ mở rộng tâm ảnh hưởng của mình ở khu vực,
từ đó sẵn sàng đối đầu với Mỹ ở những nơi vốn được coi là quan trọng chiến lược của Hoa Kỳ.
Vậy thì Hoa Kỳ sẽ phải làm gì khi mà Trung Quốc đang phô trương sức mạnh quân sự ở Vịnh Thái Lan?
Trong những năm tới, Hoa Kỳ có thể phản công bằng cách quân sự hóa Vịnh Thái Lan.
Đây là một phương án tiềm năng mà họ có thể xem xét, nhưng nó đi kèm với nhiều thách thức và rủi ro.
Hoa Kỳ có thể tăng cường sự hiện diện quân sự ở Vịnh Thái Lan bằng cách thiết lập hoặc mở rộng các căn cứ quân sự,
tăng cường hoạt động tuần tra và tổ chức các cuộc tập trận quân sự với các nước đồng minh trong khu vực.
Điều này có thể giúp tăng cường khả năng bảo vệ các tuyến đường hàng hải và nâng cao sức mạnh quân sự của Mỹ.
Mỹ có thể hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là Thái Lan, để thiết lập các cơ sở quân sự hoặc các khu vực phòng thủ mới.
Điều này có thể tạo ra một vòng tròn phòng thủ trong khu vực và tạo áp lực đối với các quốc gia khác, chẳng hạn như là Trung Quốc.
Tuy nhiên, rủi ro của việc quân sự hóa Vịnh Thái Lan có thể dẫn đến phản ứng từ các quốc gia khác, đặc biệt là Trung Quốc,
vốn có lợi ích chiến lược và kinh tế lớn trong khu vực.
Điều này có thể dẫn đến căng thẳng gia tăng và nguy cơ xung đột, đặc biệt là từ các quốc gia Đông Nam Á và cộng đồng quốc tế.
Các nước trong khu vực có thể lo ngại về sự gia tăng quân sự và can thiệp của các cường quốc bên ngoài, làm tăng nguy cơ xung đột và bất ổn.
Chưa kể đến quân sự hóa khu vực đòi hỏi đầu tư tài chính lớn và nguồn lực quân sự nữa.
Điều này có thể gây áp lực lên ngân sách quốc phòng của Mỹ và yêu cầu sự duy trì liên tục của các nguồn lực quân sự.
Đáng chú ý, việc quân sự hóa Vịnh Thái Lan có thể làm gia tăng cạnh tranh địa chính trị trong khu vực, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc.
Điều này có thể dẫn đến tình hình căng thẳng hơn và gây khó khăn cho các nỗ lực hòa bình và ổn định trong khu vực.
Thay vì quân sự hóa, Mỹ có thể chọn các phương án ngoại giao và hợp tác để bảo vệ lợi ích của mình và duy trì sự ổn định trong khu vực.
Việc hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á và thúc đẩy các hiệp định thương mại và an ninh có thể mang lại kết quả tốt hơn.
Washington nên tìm cách hợp tác với các quốc gia trong khu vực, bao gồm quan trọng nhất là Thái Lan là đồng minh an ninh,
nhưng cũng có Malaysia, Singapore, Việt Nam là đối tác thân cận và thậm chí là cả Campuchia nữa.
Mục tiêu là làm suy yếu vị thế quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc tại Vịnh Thái Lan và đảm bảo rằng những dự án hiện nay
chỉ phục vụ mục đích thương mại như kênh đào Phú Nam Tây Châu và Dara Sarko để cuối cùng chúng sẽ không trở thành các mục tiêu quân sự của Trung Quốc.
Trỡ treo thay, hầu hết các quốc gia trong khu vực mà chúng ta vừa nói ở trên đều đang phòng ngừa và sẽ tìm cách tránh tỏ ra như thế là họ đang hợp tác với Hoa Kỳ để chống lại Trung Quốc.
Và Campuchia đang tích cực hợp tác với Trung Quốc, ngay cả Thái Lan cũng sẽ khó tham gia vì Bangkok có xu hướng có cái nhìn nhẹ nhàng hơn
về các hạt động của Trung Quốc trên khắp Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương.
Bởi có những thực tế không thể chối bỏ là Trung Quốc là đối tác thương mại lớn và là nguồn đầu tư quan trọng đối với nhiều quốc gia Đông Nam Á.
Các quốc gia như Việt Nam, Thái Lan và Malaysia phụ thuộc vào xuất khẩu sang Trung Quốc và đầu tư từ Trung Quốc.
Họ có nguy cơ mất đi các cơ hội kinh tế và thương mại nếu chống lại Trung Quốc một cách công khai.
Trung Quốc đã đầu tư mạnh vào các dự án cơ sở ạ tầng qua sáng kiến một vành đai một con đường BRI,
mang lại lợi kinh tế cho nhiều quốc gia Đông Nam Á.
Điều này làm cho các quốc gia này cảm thấy khó khăn trong việc cân bằng giữa lợi kinh tế từ Trung Quốc
và các mối quan hệ an ninh với Hoa Kỳ.
Mặt khác, một số quốc gia có thể lo ngại về khả năng trả đũa từ Trung Quốc nếu họ công khai đứng về phía Hoa Kỳ.
Trung Quốc có thể áp dụng các biện pháp kinh tế, chính trị hoặc quân sự để trừng phạt các quốc gia này.
Nhiều quốc gia Đông Nam Á theo chính sách cân bằng, cố gắng duy trì mối quan hệ tốt với cả Hoa Kỳ và Trung Quốc,
muốn tránh sự lựa chọn giữa hai cường quốc lớn và tìm cách tối đa hóa lợi ích từ cả hai phía.
Chưa kể tới một số quốc gia Đông Nam Á có các vấn đề nội bộ và mối quan tâm về an ninh mà họ ưu tiên hơn
so với các vấn đề địa chính trị lớn, họ có thể cảm thấy rằng việc chọn bên chống lại Trung Quốc
có thể làm gia tăng bất ổn nội bộ.
Các quốc gia này có thể lo ngại về việc trở thành quân cờ trong cuộc chiến lớn giữa các cường quốc,
làm giảm tính độc lập và chủ quyền của họ trong quyết định chính trị và chiến lược.
Quan trọng hơn là Trung Quốc có tầm ảnh hưởng lớn tại Đông Nam Á thông qua các kênh ngoại giao
và sự hỗ trợ cho các quốc gia trong khu vực.
Nhiều quốc gia cảm thấy rằng hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ có thể làm giảm sự hỗ trợ từ Trung Quốc
và ảnh hưởng đến các mối quan hệ địa chính trị của họ.
Một số quốc gia Đông Nam Á có thể không thấy rằng lợi ích từ việc chống lại Trung Quốc lớn hơn rủi ro và tổn thất tiềm năng.
Họ có thể thấy rằng sự hợp tác với Hoa Kỳ không đảm bảo cho sự an toàn và lợi ích lâu dài của họ.
Đó là lý do giải thích cho sự dè dặt của nhiều quốc gia Đông Nam Á trong việc hợp tác với Hoa Kỳ chống lại Trung Quốc
có thể được hiểu qua lăng kính của lợi ích kinh tế, cân bằng địa chính trị, mối quan ngại nội bộ và chiến lược quốc gia.
Các quốc gia trong khu vực thường cố gắng duy trì sự cân bằng và tối đa hóa lợi ích từ mối quan hệ với cả hai cường quốc lớn,
đồng thời bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia của họ.
Nói như vậy không có nghĩa là các nước trong khu vực sẽ bình chân như vậy, ngay cả khi có đe dọa về an ninh quốc gia.
Khi các phương tiện quân sự của Trung Quốc bắt đầu tuần tra vịnh Thái Lan hoặc có hành vi đe dọa khác,
lúc đó các quốc gia Đông Nam Á sẽ thay đổi nhận thức.
Trong bức cảnh đó, họ sẽ liên kết và chắc chắn là vẫn lựa chọn hợp tác với các cường quốc khác để cân bằng với Trung Quốc.
Có một vấn đề là hầu hết các nước Đông Nam Á đang ở trong thế bị động.
Họ rất dễ rơi vào thế mất bò mới lo làm chuồng, khi Bắc Kinh đang từng bước quân sự hóa các dự án,
mà bắt đầu họ nói chỉ là phục vụ mục đích dân sự hoặc kinh tế.
Thưa quý vị, những sự kiện xảy ra trong khoảng chưa đầy một năm qua ở Đông Nam Á,
cho thấy tình hình có vẻ đáng lo ngại.
Bắc Kinh công bố bản đồ tiêu chuẩn mới, trong đó có yêu sách đường 10 đoạn Biển Đông.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từ chối tham dự hội nghị cấp cao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á-ASEAN tại Jakarta,
hay Trung Quốc và Philippines lại có thêm những căng thẳng sau các sự kiện tàu hải cảnh Trung Quốc bắn vòi dòng
vào tàu cảnh sát biển Philippines tại khu vực bãi tỏa mây trên Biển Đông, hay va chạm tại bãi Sabin mới đây?
Rốt cuộc thì, Trung Quốc đang muốn làm gì? Và các nước Đông Nam Á cần chuẩn bị như thế nào?
Ngày 1 tháng 9 năm 2024, một hôm sau vụ va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu Philippines
gần bãi Sabin ở Biển Đông, Liên minh châu Âu-EU đã lên án hải cảnh Trung Quốc có những hành động nguy hiểm
đối với hoạt động hàng hải hợp pháp của Philippines trong khu vực.
Trung Quốc đáp trả, khuyên cáo Liên hiệp châu Âu cần khách quan và công bằng về vấn đề Biển Đông.
Trong thông cáo ngày 1 tháng 9, bà Nabila Malasrali, người phát ngôn của lãnh đạo ngoại giao châu Âu
Joseph Borrell, cho rằng những hành động đó gây nguy hiểm cho sự an toàn của những người hoạt động trên biển
và vi phạm tự do hàng hải mà mọi quốc gia đều có quyền, chỉu theo luật pháp quốc tế.
Ngoài ra, Liên minh châu Âu cũng lên án mọi hành động bất hợp pháp, leo thang, dọa nạt,
xâm phạm những nguyên tắc của luật pháp quốc tế, đe dọa hòa bình và ổn định ở trong vùng,
sẵn sàng ủng hộ các đối tác thực thi quyền hợp pháp của họ trong khu vực và ngoài khu vực.
Ngay lập tức, Bắc Kinh cho biết không hài lòng với những cáo buộc của Bruxelles.
Trong tuyên bố được Reuters trích dẫn ngày 2 tháng 9, Phái bộ Trung Quốc tại Liên hiệp châu Âu kêu gọi
khối hai bảy nước nên thận trọng trong lời nói và hành động về các vấn đề biển Đông,
vì Liên minh châu Âu không phải là một bên trong vấn đề biển Đông và không có quyền chỉ trích vấn đề này.
Trước đó, Bộ Ngoại giao Mỹ cũng ra thông cáo lên án hành động của Trung Quốc và ủng hộ Philippines.
Cũng trong ngày 2 tháng 9, Bắc Kinh khẳng định đang bảo vệ các quyền của mình ở biển Đông,
sau khi Philippines công bố hai đoạn phim dường như cho thấy một tàu tuần duyên Trung Quốc đâm vào một trong những tàu
của Philippines ở bãi cạn Sabin, cách Philippines 140km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc đến 1.200km.
Nhưng Bắc Kinh đòi chủ quyền.
Trả lời báo giới, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mao Ning tái khẳng định tuyên bố trước đó của Bắc Kinh
rằng Philippines đã cố tình đâm vào tàu Trung Quốc, cáo buộc Philippines cử tàu tuần duyên nán lại bãi Sabin.
Trong một thời gian dài và cố gắng chiếm đóng vĩnh viễn bãi cạn này.
Vụ vá chạm gần bãi cạn Sabin là vụ đối đầu trên biển thứ năm của hai nước trong vòng một tháng trong cuộc tranh chấp kéo dài.
Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ biển Đông, trồng lẫn những phần mà Philippines, Brunei, Malaysia,
Đài Loan và Việt Nam tuyên bố chủ quyền.
Một số phần của vùng biển này, nơi khối lượng thương mại trị giá 3.000 tỷ đô la đi qua hàng năm,
được cho là giàu trữ lượng dầu bỏ và khí đốt thiên yên, cũng như là trữ lượng cá.
Không sự kiện nào trong số những tranh chấp mà chúng ta nói ở trên có mặt Trung Quốc có thể gây ngạc nhiên
cho các nhà nghiên cứu về Trung Quốc và tình hình Biển Đông.
Giới chuyên gia đã mường tượng thấy một bức tranh phức tạp về vở kịch ngoại giao của Trung Quốc ở Biển Đông.
Sự kết hợp giữa ngoại giao truyền thống, ngoại giao pháo hạm và ngoại giao công chúng đã trở thành thông lệ trong khu vực.
Việc Trung Quốc thực hiện cái gọi là luật pháp, sử dụng các hệ thống và thể chế pháp lý để làm suy yếu đối phương,
cùng với việc sử dụng chiến thuật vùng sám nhằm mục đích phá vỡ hiện trạng ở Biển Đông theo những cách ít gây chiến.
Trong hơn một năm qua, Bắc Kinh đã liên tục gây áp lực đối với Philippines.
Lúc thì Philippines đã tối cáo Trung Quốc chiếu tiêu laze vào các thủy thủ của Philippines.
Lúc thì Trung Quốc bắn vòi dông vào tàu Philippines, làm hàng giao pháo để ngăn chặn ngư dân Philippines
tiếp cận bãi cản Scarborough, hay ngăn cản tiếp tế thủy thủ, v.v.
Các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh dựa trên đường chín đoạn đã bị tòa trọng tài theo phụ lục 7 của UNCLOS tuyên vô hiệu vào năm 2016.
Nhưng điều đó không ngăn được các tàu Trung Quốc bắn tiêu laze và vòi dông hoặc thực hiện các hoạt động tiếp cận
và phong tỏa hạm đội để khẳng định chủ quyền bằng sự đe dọa, cho dù điều đó trái với luật pháp quốc tế.
Từ việc chiếu tiêu laze vào các tàu Philippines vào tháng 2, cho đến bắn vòi dông và đặt pháo ngăn chặn,
Trung Quốc liên tục thử thách các giới hạn của sự xâm lược, tăng cường nhưng cẩn thận tránh hành động chiến tranh rõ ràng ở Biển Đông.
Những hành động như vậy đã gây ra sự lên án mạnh mẽ từ những nước như Philippines và các quốc gia khác,
cũng như từ các đối thủ của Trung Quốc như Mỹ và Nhật Bản.
Nhưng Trung Quốc không hề tỏ ra lo lắng, thường coi hành vi đó là hợp pháp và cần thiết để bảo vệ lợi ích của mình.
Một vấn đề quan trọng đặt ra là tại sao Trung Quốc lại gây căng thẳng trên Biển Đông như vậy?
Nhằm mục đích gì? Làm sao để chống lại hành vi trên của Trung Quốc?
Một vấn đề nổi cộm nhưng bị báo chí Trung Quốc lờ đi là việc Bắc Kinh đang trải qua một trong những cuộc khủng hoảng lớn nhất.
Nhà lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình đã phải liên tục hứng chịu những thách thức mà ông gọi là sóng to do lớn
trong nỗ lực giữ cho con thuyền Trung Quốc khỏi bị nhấn chìm.
Tuy nhiên, sự quản trị yếu kém đang khiến Trung Quốc gặp khủng hoảng lớn.
Mặc dù luật pháp và che nép trên biển là một phần không thể thiếu trong bộ công cụ của Bắc Kinh,
ngay cả trong những thời điểm thuận lợi hơn,
nhưng đã có một sự gia tăng rõ ràng trùng hợp với các vấn đề trong nước của Trung Quốc,
tình trạng rối loạn trên thị trường bất động sản, tỷ lệ thanh niên thất nghiệp cao và xuất khẩu giảm.
Trung Quốc dường như đang cố gắng tìm cách tạo cớ cho một phản ứng quân sự từ các bên tranh chấp đối lập
bởi Biển Đông hoặc các đồng minh của họ.
Điều này sẽ kích hoạt việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc.
Tuy nguy hiểm hơn, nhưng chính đáng về mặt pháp lý.
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có quốc gia liên quan nào rơi vào bẫy của Trung Quốc như vậy.
Philippines đã nhiều lần theo đuổi con đường ngoại giao để bày tỏ sự bất bình,
bao gồm cả việc triệu tập đại sứ Trung Quốc để phản đối.
Tuy nhiên, ngoại trừ leo thang quân sự, các chuyên gia cho rằng,
Trung Quốc dường như ngày càng nhận thức rõ ràng hơn về những gì họ có thể đạt được
và không có khả năng ngừng gây thù địch với các nước láng giỉng.
Colin Cole, nhà phân tích an ninh khu vực của trường Jarajanam tại Singapore cho biết,
tôi nghĩ Trung Quốc đang cố gắng tránh trở thành nước nổ súng đầu tiên,
vì điều đó sẽ làm suy yếu lập trường của họ trên nhiều mặt.
Derek Grossman, nhà phân tích quốc phòng cấp cao tại tập đoàn RAND của Mỹ cũng cho biết,
mặc dù việc Trung Quốc bắn vòi rồng là nguy hiểm, nhưng nó sẽ không được coi là một cuộc tấn công vũ trang
có thể kích hoạt một hiệp ước phòng thủ chung giữa Washington và Manila.
Thông thường, một cuộc tấn công vũ trang sẽ dẫn đến sự phá hủy vĩnh viễn hoặc vô hiệu hóa tài sản,
có thể gây thương vong về người hoặc mất mạng.
Câu hỏi đặt ra là, liệu sức mạnh và thời gian có ủng hộ Trung Quốc?
Một lý do khiến Trung Quốc có thể cảm thấy bạo dạn gia tăng căng thẳng hiện nay là nước này cho rằng,
họ đã đạt đến đỉnh cao thống trị ở vùng Biển Đông.
Bắc Kinh đã thể hiện rõ ràng sự không hài lòng đối với mối quan hệ an ninh chặt chẽ hơn
của chính quyền Tổng thống Marcos Junior với Washington.
Mặc dù Mỹ, với tư cách là cường quốc biển mạnh nhất thế giới, luôn cố gắng duy trì sự hiện diện ở Biển Đông,
nhưng sự hiện diện của Mỹ vẫn chưa là gì so với lợi thế địa lý thực tế của Bắc Kinh.
Trung Quốc là một quốc gia ven Biển Đông, chưa kể đến nhóm tiền đồn đảo nhân tạo được quân sự hóa,
mang lại lợi thế chưa từng có để thể hiện sự hiện diện liên tục của Bắc Kinh trong khu vực.
Trung Quốc đang thể hiện cho thấy nước này có thể khai thác bộ công cụ mở rộng chiến thuật vùng xám theo ý muốn.
Nói cách khác, Bắc Kinh tin rằng họ có thể chơi trò chơi lâu dài ở Biển Đông.
Ví dụ ở bãi cỏ mây, Trung Quốc hoàn toàn nhận thức được rằng thân tàu ZZ của tàu chiến Sierra Madre
của Philippines đang mắc cạn sẽ không tồn tại quá lâu trước khi nó phải bị loại bỏ.
Bắc Kinh không có động cơ nào để phát động một cuộc tấn công chấp nhoáng để trục xuất người Philippines ra khỏi bãi cạn này.
Thay vào đó, họ có thể đơn giản làm CEO Manila cho đến khi nước này từ bỏ quyền kiểm soát bãi cạn đó.
Vậy thì các nước Đông Nam Á cần làm gì?
Trước hết, các quốc gia Đông Nam Á trực tiếp liên quan đến tranh chấp Biển Đông cần thận trọng,
không để bị rơi vào bẫy nổ súng trước của Trung Quốc.
Ngoài ra, khi Trung Quốc muốn trò chơi này kéo dài,
thì các nước Đông Nam Á liên quan cần phải có chiến lược đối phó Bắc Kinh một cách lâu dài.
Trong một trò chơi kéo dài, việc chỉ tập trung vào đối thoại là không đủ.
Phản ứng ngoại giao đồng loạt của các bên Đông Nam Á chống lại bản đối tiêu chuẩn mới của Trung Quốc là một dấu hiệu đáng khích lệ.
Tuy nhiên, ngoại giao phải được củng cố bằng một hình thức thể hiện sự hiện diện hữu hình.
Giải pháp đơn giản nhất là mua ngay càng nhiều tàu và máy bay mạnh mẽ có khả năng hoạt động trên vùng Biển Đông rộng lớn.
Tuy nhiên, việc này gặp khó do hạn chế về tài chính,
quan cảnh vốn quen thuộc với các nước trong khu vực đang tìm cách phục hồi và tăng trưởng kinh tế
sau đại dịch Covid-19 và chiến tranh Ukraine.
Không thể sánh với đội tàu và máy bay của Trung Quốc,
nên việc phối hợp và tối đa hóa các nguồn lực thực thi pháp luật về quân sự và hàng hải trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Các nước Đông Nam Á có thể chống lại bằng cách chẳng hạn như thắt chặt các quy định pháp lý hàng hải hiện có
hoặc tạo ra các quy định mới phù hợp với luật pháp quốc tế để khẳng định lợi ích của mình.
Cũng cần tăng cường khả năng phục hồi kinh tế, đặc biệt đối với những nước phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu của Trung Quốc,
để đa dạng hóa thị trường trong nước nhằm ngăn chặn hoặc giảm thiểu sự ép buộc kinh tế.
Sẽ cần nỗ lực của cả nước để đảm bảo các chiến thuật vùng xám không gây bất hòa và gây mất đoàn kết,
có thể làm tê liệt phản ứng quốc gia trước các tình huống bất ngờ ở Biển Đông.
Cuối cùng, trong khi nhận thức được hạn chế cố hiểu về mặt cấu trúc của ASEAN,
khiến việc đưa ra bất kỳ quan điểm thống nhất nào về tranh chấp Biển Đông trở nên khó khăn.
Các quốc gia thành viên có cùng chi hướng có thể hợp tác chặt chẽ hơn với nhau.
Những nước có tranh chấp ở Biển Đông nên bắt đầu giải quyết những vấn đề này một cách nghiêm túc,
chẳng hạn như trường hợp thỏa thuận giữa Indonesia và Việt Nam nhằm phân định các vùng đặc quyền kinh tế trồng lấn hồi tháng 12 năm 2022.
Các biên liên quan trong ASEAN có thể nỗ lực hướng tới quan điểm thống nhất để tăng cường sức mạnh của mình
trong các cuộc đàm phán hiện nay với Bắc Kinh về Bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông, COC.
Thông điệp từ việc cải tạo đảo ở Trường Sa của Việt Nam
Thưa quý vị, Việt Nam đã cải tạo, nâng cấp các đảo ở Trường Sa, trong đó có bãi thuyền trài được cải tạo đủ sức
để xây dựng đường băng dài 3.000m. Các chuyên gia nghiên cứu Biển Đông cho rằng,
việc Việt Nam tăng tốc cải tạo các đảo ở Trường Sa nhằm để Trung Quốc thấy cái giá phải trả cao hơn
nếu chuyển căng thẳng về phía Việt Nam.
Hôm 17 tháng 6 năm 2024, chương trình Sáng kiến Minh bạch hàng hải châu Á AMTI
của Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế CSIS ở Washington, D.C. công bố báo cáo cho biết
Việt Nam tăng tốc cải tạo, nâng cấp các đảo mình đang đóng quân ở Trường Sa.
Trong đó, bãi thuyền trài được cải tạo với độ dài đã hơn 4.000m, đủ sức để xây dựng đường băng dài 3.000m.
Theo ảnh vệ tinh chụp bãi thuyền trài từ PlanetLab ghi nhận được trong ngày 28 tháng 8 năm 2024,
so sánh với ảnh vệ tinh của AMTI chụp hồi tháng 5, có thể thấy bãi thuyền trài đã được tăng cường đáng kể
so với hai tháng trước. Cụ thể, bộ phần được cho là có thể xây dựng đường băng vào hồi giữa tháng 5 năm 2024
vẫn còn lồi lõm, có nhiều nước, nhưng vào ngày 28 tháng 8, ảnh vệ tinh cho thấy nó đã được bồi lấp đầy đủ.
Theo những phân tích của nhà nghiên cứu Trần Băng ở Đại học Paris II Pháp và nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương
ở Đại học Canberra, Australia, ảnh vệ tinh mới nhất ghi nhận cho thấy bãi thuyền trài có công sự cảng,
âu tàu, vịnh bên trong để trú ẩn. Đặc biệt, có thể thấy năng lực công nghiệp quốc phòng của Việt Nam
đã tiến lên một bước. Khi ở thuyền trài có sự hiện diện của các tàu hút cát cỡ lớn, có thể hút cát tại chỗ
Tại sao Việt Nam tăng cường xây dựng những cơ sở vật chất nói trên ở bãi thuyền trài?
Liệu những tiến triển mới ở bãi thuyền trài có làm cho Trung Quốc chuyển hướng căng thẳng từ Philippines sang Việt Nam?
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương nhận định, không chỉ trên bãi thuyền trài mà còn ở các điểm khác của Việt Nam ở trường xa.
Theo một số báo cáo, căn cứ vào hình ảnh vệ tinh, thì 1-2 năm trở lại đây, Việt Nam đã đẩy mạnh cải tạo các điểm đảo ở trường xa,
trong đó điểm được cải tạo lớn nhất là bãi thuyền trài.
Điều này nằm trong tư duy cước phòng của Việt Nam. Tư duy cước phòng của Việt Nam đi theo 3 yếu tố là bờ, biển, đảo.
Những yếu tố này rất quan trọng trong tư duy phòng thủ hướng biển của Việt Nam.
Trong đó các đảo ở trường xa được nhấn mạnh là có vai trò quan trọng trong việc Việt Nam có thể phòng thủ hướng biển hay không.
Theo chuyên gia Nguyễn Thế Phương, Việt Nam đã rút kinh nghiệm từ vụ gian khoan HD-981 xâm nhập sâu vào vùng đặc quyền kinh tế năm 2014.
Khi đó Việt Nam mỗi khi cần tiếp viện cho các lực lượng trên biển thì chủ yếu vẫn là đi từ đất liền ra.
Tiếp viện từ đất liền thì quy mô và tốc độ chi viện bị giảm thiểu vì khoảng cách từ bờ biển ra đến nơi cần tiếp viện là rất xa.
Việc cải tạo các đảo ở trường xa sẽ giúp Việt Nam triển khai lực lượng chi viện tới các vùng biển tranh chấp nhanh hơn.
Đó là bài học Việt Nam rút ra được từ năm 2014.
Vì vậy, nếu nhìn việc cải tạo đảo, chúng ta thấy những địa điểm phù hợp như là thuyền trài thì sẽ được mở đường băng.
Sắp tới thuyền trài sẽ có một đường băng khoảng 3km.
Khi đó thì Việt Nam có thể triển khai không chỉ máy bay vận tải bình thường mà cả máy bay quân sự nữa.
Thứ hai là thuyền trài cũng được xây thêm các âu tàu, giúp cho lực lượng chấp pháp biển có thể trú ẩn.
Từ đó các lực lượng này có thể triển khai đến vùng tranh chấp rất nhanh.
So với trước đây, Việt Nam chỉ có thể triển khai lực lượng chấp pháp từ bờ ra. Đây là sự tăng năng lực rất lớn.
Thứ ba, việc cải tạo đảo còn hướng đến mục tiêu giúp cho điều kiện sống, làm việc của con người trên đảo được tốt hơn.
Điều này nằm trong tư duy quốc phòng của Việt Nam là chiến tranh nhân dân.
Trên các đảo tiền tiêu ở trường xa sẽ không chỉ có quân đội mà còn có cả người dân sinh sống làm ăn.
Điều đó tạo ra thế trận mà thuật ngữ quân sự Việt Nam gọi là chiến tranh nhân dân.
Tư duy chiến tranh nhân dân có kết quả là tạo cho Việt Nam điểm tựa lớn hơn ở các vùng tranh chấp.
Tiếp nữa, một trong những cơ sở mà Việt Nam đẩy mạnh cải tạo, nâng cấp là các cơ sở phòng thủ.
Tư duy quốc phòng hướng biển của Việt Nam đi theo hướng phòng thủ, chứ không phải là tấn công.
Làm thế nào để các điểm phòng thủ của Việt Nam ở trường xa càng khó bị tấn công càng tốt,
và nếu bị chiếm thì cũng khó mà giữ được.
Đó là tư duy phòng thủ hiện nay của Việt Nam, theo lời chuyên gia Nguyễn Thế Phương.
Đó là lý do vì sao không chỉ thuyền trai mà một số điểm đảo xung quanh thuyền trai cũng được cải tạo, nâng cấp.
Đó là những yếu tố chính giải thích cho hoạt động cải tạo, nâng cấp đảo của Việt Nam gần đây.
Ông Nguyễn Thế Phương nhận định rằng, ở thời điểm hiện tại thì Trung Quốc không muốn chuyển căng thẳng về phía Việt Nam.
Nói cái khác, họ chưa muốn tạo ra nhiều mặt trận khác nhau trên Biển Đông cùng một lúc.
Về vấn đề này, các học giả có nhiều đánh giá khác nhau.
Một trong những đánh giá đáng chú ý là Trung Quốc tính toán ở thời điểm hiện nay dựa trên vấn đề
tức là lợi ích mà họ đạt được là gì và cái giá mà họ phải trả khi họ thực thi bất kỳ động thái mới nào trên Biển Đông.
Hiện nay dường như Bắc Kinh đánh giá rằng nếu họ tiếp tục gây sức ép lên Philippines thì họ sẽ được nhiều cái lợi hơn là thiệt hại.
Trong khi đó, nếu tăng cường sức ép lên Việt Nam thì cái giá phải trả sẽ tăng lên rất là nhiều.
Ở đây có một số logic mà nhiều học giả, trong đó có cả các học giả Mỹ đánh giá là chính vì Philippines là đồng minh của Mỹ,
nên ở thời điểm hiện tại, Trung Quốc mới nhắm vào họ.
Hãy quay trở lại với ví dụ năm 2014, khi Bắc Kinh kéo giàn khoan HD-981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.
Khi đó, một trong những lý do khiến cho Trung Quốc hạ nhiệt rút lui là Việt Nam đe dọa sẽ xích lại gần hơn với Mỹ bằng cách này hay cách khác.
Chính điều đó làm cho Trung Quốc lùi lại một bước vào hạ nhiệt, bởi vì họ biết rằng nếu Trung Quốc hạ nhiệt thì Việt Nam cũng sẽ không tiến lại gần Mỹ quá mức.
Trong tư duy quốc phòng của Trung Quốc thì Việt Nam có vị trí rất quan trọng, là điểm án ngữ sườn phía nam của họ.
Nếu Việt Nam tiến lại gần Mỹ thì vị trí sườn phía nam của họ sẽ bị đe dọa rất nghiêm trọng.
Chính điểm đó là một trong những công cụ để Việt Nam có thể thương lượng với Trung Quốc.
Trong khi đó, Trung Quốc hiểu rằng dù họ có ép Philippines hết cỡ thì Philippines cũng đã là đồng minh của Mỹ từ lâu rồi.
Do đó, đứng từ góc độ của Philippines thì họ không còn công cụ nào khác để tương tác với Trung Quốc nữa.
Đó chính là điểm mà các học giả hiện nay thống nhất với nhau về Philippines.
Nước này không còn nhiều công cụ làm đòn bẩy với Bắc Kinh.
Ông Nguyễn Thế Phương nói, thực tế mà nói thì các điểm đảo Việt Nam bồi đắp ở trường Sa đã do Việt Nam sở hữu kiểm soát từ rất lâu rồi.
Các điểm đảo này từ lâu đã có cơ sở hạ tầng rất kiên cố và vững chắc.
Trong khi đó, các điểm tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc thì tình hình rất khác.
Bãi cạn Scarborough thì Philippines đã mất quyền kiểm soát từ rất lâu,
còn ở bãi Cỏ Mây thì Philippines chỉ có một con tàu cũ nát sản xuất từ thời Thế chiến 2 neo trên đó.
Trung Quốc có đủ khả năng để kéo con tàu đó ra khỏi bãi Cỏ Mây.
Điều đó có nghĩa là gì?
Có nghĩa là vị thế trên thực địa của Philippines tại các vùng tranh chấp yếu hơn rất nhiều so với các thực thể mà Việt Nam đang chiếm giữ.
Nói cách khác, năng lực của Philippines trên thực địa không đủ mạnh để thuyết phục Trung Quốc rằng
nếu anh không giảm căng thẳng thì anh sẽ phải trả một cái giá rất lớn.
Chính điều này cũng là điểm cốt lói trên thực địa khiến cho Trung Quốc tự tin trong việc trẻ nét Philippines.
Điểm này cũng là điểm mà Philippines và Việt Nam khác nhau.
Thưa quý vị, xương đột biển đông giữa Trung Quốc và Philippines đang leo thang căng thẳng,
đặc biệt là sau vụ va chạm ác ý do hải quân Trung Quốc gây ra gần đây.
Từ ngày 27 tháng 8 đến ngày 2 tháng 9, có tới 71 tàu Trung Quốc hoạt động gần bãi Sabine.
Trước đó thì hải quân Philippines đã quan sát thấy 53 tàu Trung Quốc, bao gồm cả dân quân biển.
9 tàu hải quân và 9 tàu cảnh sát biển.
Bãi Sabine, cách đảo Palawan của Philippines khoảng 75 hải lý,
đã trở thành điểm nóng trong những tuần gần đây do các cuộc đối đầu trên biển giữa Philippines và Trung Quốc.
Philippines gọi vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế EEZ của mình ở biển đông là biển Tây Philippines.
Theo Công ngước Liên Hợp Quốc về Luật Biển Anklos,
EEZ trao cho quốc gia ven biển quyền độc quyền trong phạm vi 200 hải lý,
tính từ đường cơ sở để quản lý hoạt động đánh bắt cá, thăm giò và khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Ngày 3 tháng 9, quốc đội Philippines cho biết họ đã theo dõi số lượng tàu Trung Quốc kỷ lục hơn 200 chiếc
tại nhiều địa điểm khác nhau trong EEZ của Philippines trong tuần qua.
Phần lớn các tàu này xuất hiện gần bãi Sabine, nơi xảy ra vụ vai trạm gần đây nhất vào ngày 31 tháng 8
khi tàu hải cảnh Trung Quốc đâm vào tàu Philippines 3 lần.
Quốc đội Philippines cho rằng sự gia tăng tàu Trung Quốc trong khu vực là do những lo ngại
về việc Trung Quốc có thể thiết lập căn cứ quân sự thường trực tại bãi Sabine.
Ngoài các tàu tập trung quanh bãi Sabine, 52 tàu Trung Quốc khác cũng được phát hiện gần đảo Titu của Philippines.
Thêm vào đó, hàng chục tàu Trung Quốc khác neo đậu tại bãi Cỏ Mây và nhiều đảo bãi Đa khác
trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.
Chuẩn đối đốc Alberto Carlos, người phát ngôn của lực lượng vũ trang Philippines,
tuyên bố rằng sự hiện diện của Bắc Kinh trong EEZ của Manila là bất hợp pháp
và hải quân Philippines sẽ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc cáo buộc Philippines mắc cạn bất hợp pháp tàu Sierra Madre
để chiếm đóng bãi Cỏ Mây. Họ tuyên bố các biện pháp thực hiện tại bãi Cỏ Mây
là để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền hàng hải của họ.
Từ ngày 26 đến 30 tháng 8, đối đốc John Aquilino, tư lệnh bộ chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương
của Mỹ đã đến thăm Philippines.
Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các lực lượng vũ trang Mỹ và Philippines
tân thủ hiệp ước phòng thủ chung trong bối cảnh xung đột Biển Đông
với tư cách là đồng minh hiệp ước lâu đời nhất của Mỹ trong khu vực.
Việc của đội Mỹ hộ tống tàu Philippines ở Biển Đông là một lựa chọn.
Đối đốc Aquilino đề cập rõ ràng đến khả năng hải quân Mỹ hộ tống tàu Philippines ở Biển Đông.
Điều này liên quan đến hai sự thật.
Mỹ và Philippines có hiệp ước phòng thủ chung tương tự như NATO và Hải quân Trung Quốc
đã bắt đầu tham gia vào các cuộc xung đột vùng sám ở Biển Đông.
Đây là một tín hiệu rất nguy hiểm, cho thấy Trung Quốc có thể đang vượt qua lăn danh đỏ
của hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines.
Tuy nhiên, tướng Romeo Browner, tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Philippines cho biết,
Manila sẽ chỉ chấp nhận đề nghị của đối đốc Aquilino về việc hải quân Mỹ hộ tống tàu Philippines
nếu các nỗ lực đơn phương thất bại.
Philippines dường như vẫn hy vọng tránh leo thang xung đột Biển Đông thông qua các nỗ lực ngoại giao,
ít nhất là cho đến khi tất cả các lựa chọn khác đã được sử dụng hết.
Philippines không muốn tìm kiếm sự hỗ trợ quân sự của Mỹ trong các hoạt động hàng hải độc lập.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Philippines và Mỹ không sẵn sàng thực hiện các hành động phối hợp.
Việc Trung Quốc leo thang các hành động khiêu khích và hung hăng trên biển và trên không
đang đặt ra mối đe dọa quân sự ngày càng tăng đối với Philippines và Nhật Bản,
thúc đẩy Mỹ tăng cường khả năng tác chiến chung với các đồng minh trong khu vực.
Hải quân Mỹ hiện đang tiến hành cuộc tập trận Pacific Vanguard đa quốc gia hàng năm.
Hải quân Hoàng gia Canada, lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản, hải quân Hàn Quốc và hải quân Mỹ
đang phô diễn sức mạnh trên biển Philippines.
Cuộc tập trận chung trên biển này bao gồm các bài tập bắn đạn thật, săn tàu ngầm, nhảy đảo và không chiến.
Một chủ đề nổi bật trong các cuộc tập trận đa quốc gia này là mạng.
Họ nhấn mạnh việc chia sẻ thông tin nhanh hơn và hiệu quả hơn,
theo dõi các hoạt động của đối phương và thực hiện các cuộc tấn công phối hợp đa quốc gia, đa miển khi cần thiết.
Điều này liên quan đến một vấn đề quan trọng trong khả năng tác chiến trên biển của nhiều quốc gia trên biển Philippines.
Đó là khả năng chia sẻ thông tin theo thời gian thực giữa các tàu đồng minh trên toàn Thái Bình Dương
để tăng cường kết nối giữa tình báo, giám sát, trinh sát và hỏa lực động năng
nhằm bảo vệ các đồng minh và đối tác trong khu vực như là Đài Loan, Philippines và Nhật Bản,
những nơi đang trực tiếp bị ảnh hưởng.
Cuộc tập trận này nhấn mạnh khả năng trao đổi thông tin theo thời gian thực giữa các lực lượng đa quốc gia
thông qua các liên kết thông tin, radar, GPS và các công nghệ mạng không dây khác.
Ngoài một số liên lạc vô tuyến đơn giản,
việc chia sẻ dữ liệu xuyên quốc gia giữa máy bay không nghề lái, tàu nổi và máy bay
có thể liên quan đến các mối quan hệ giao diện phức tạp, cam biến, radio, tín hiệu điện tử
và hệ thống dẫn đường của mỗi quốc gia cần sử dụng các giao diện và cấu hình tiêu chuẩn
để đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin giữa các lớp truyền dẫn khác nhau.
Các giao diện hoặc cổng mới có thể đảm bảo trao đổi thông tin tự do giữa các lực lượng đồng minh,
chẳng hạn như thông tin từ máy bay chiến đấu của Nhật Bản
có thể được truyền đến tàu chiến của Hàn Quốc, Mỹ và Canada.
Bằng cách thiết lập các liên kết và giao diện thông tin chung,
các đội hình trên biển và trên không đa quốc gia trên khắp Thái Bình Dương
có thể thiết lập thành công các danh giới phòng thủ khu vực.
Ví dụ nếu một máy bay không nghề lái của Hải quân Mỹ phát hiện một tàu ngầm Trung Quốc
sử dụng sonar kéo theo đang hướng tới Philippines,
máy bay không nghề lái có thể ngay lập tức cảnh báo các tàu của Nhật Bản, Hàn Quốc và Canada,
đồng thời gửi thông tin về mối đe dọa đến máy bay không nghề lái từ tất cả các quốc gia đồng minh.
Nếu một máy bay không nghề lái của Hàn Quốc phát hiện Trung Quốc phóng tên lửa chống hạm
từ ngoài phạm vi giám sát radar của quân đồng minh,
nó sẽ xử lý dữ liệu về mối đe dọa theo thời gian thực
và truyền thông tin nhạy cảm về thời gian đến các nút trên không, trên biển và trên bộ khác,
cho phép các chỉ huy tàu đồng minh biết về mối đe dọa sắp xảy ra và hành động.
Hiện nay thì cả Nhật Bản và Mỹ đều sử dụng radar Aegis,
có nghĩa là họ có thể trao đổi thông tin về mối đe dọa tên lửa đạn đảo
một cách nhanh chóng trên các vùng biển rộng lớn.
Hệ thống chiến đấu Aegis sử dụng phần mềm, cảm biến và hệ thống radar chung,
do đó có thể theo dõi thông tin về mối đe dọa một cách nhanh chóng.
Theo nghĩa này, công nghệ tính toán và các tiêu chuẩn chung
có khả năng cải thiện cơ bản luôn dữ liệu từ các cảm biến không thương thích khác,
cho phép quân đội các quốc gia khác nhau giao tiếp thông tin
theo thời gian thực và liền mạch trong môi trường mạng.
Nếu việc Mỹ xây dựng một nền tảng thông tin chung ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương
là để chuẩn bị cho chỉ huy và kiểm soát chung,
thì việc máy bay vận tải cánh quạt Osprey và máy bay chiến đấu tấn công chung F-35B
cất cánh từ tàu tấn công đội bộ U.S. America trên biển Philippines
là một cuộc triển lãm về sức mạnh tấn công trên bộ, trên biển và trên không.
Với sự leo thang nhanh chóng của tình hình ở Biển Đông,
việc Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự trên biển Philippines
Xét đến sự hợp tác quân sự lâu dài giữa Mỹ và Philippines,
khả năng tàu chiến Mỹ hộ tống tàu Philippines trong những tuần tới đang gia tăng.
Điều này sẽ đưa Philippines lên một mức độ phòng thủ an ninh chưa từng có.
Đặc biệt trong những tháng gần đây, quân đội Mỹ đã bổ sung một số căn cứ mới ở Philippines
để tiến hành các hoạt động triển khai tài sản và mở rộng hợp tác quân sự Mỹ-Philippines.
Là một tàu tấn công đội bộ bom lớn U.S. America
có thể mang theo tới 20 máy bay chiến đấu tàng hình F-35B.
Sự hiện diện của nó ở biển Philippines có nhiều lý do.
Trong đó quan trọng nhất có lẽ là nó cho phép máy bay chiến đấu thể thứ 5 của Mỹ
tiếp cận một khu vực rộng lớn, từ đó có thể bảo vệ Philippines, Đài Loan
và thậm chí là tấn công một số khu vực nhạy cảm của Trung Quốc Đại Lục.
Khoảng cách gần nhất giữa Philippines và Trung Quốc Đại Lục chỉ khoảng 500 km.
Vì vậy, nếu tàu tấn công đội bộ lớp America đi vào biển Đông,
eo biển Ba Sĩ hoặc biển Philippines, bán kính chiến đấu của F-35B
sẽ bao phủ biển Đông, eo biển Đài Loan và một phần bờ biển Trung Quốc.
F-35B có tầm hoạt động khoảng 1.600-2.000 km,
có thể tấn công từ hầu hết mọi nơi trên biển Philippines
hoặc thiết lập vùng kiểm soát không phận trên biển Philippines
thông qua kiếp nhiệt liệu trên không.
Trong việc bảo vệ lãnh hải và lãnh không rộng lớn của Philippines,
F-35 có thể chia sẻ thông tin chiến trường một cách an toàn và tốc độ cao
với các đồng minh thông qua liên kết dữ liệu đa chức năng tiên tiến MADL.
F-35B cất cánh trên biển và F-35A cất cánh trên đất liền
sẽ tạo ra lợi thế về số lượng và khả năng so với lực lượng không quân
bất kể nó là J-20, J-31 hay cả 2 xuất hiện của lúc.
Do đó, tàu tấn công đổ bộ bong lớn mang theo F-35B
có thể sẽ làm thất bại mọi nỗ lực thiết lập ưu thế trên không của Trung Quốc.
Và nếu Trung Quốc cố gắng làm như vậy,
một cuộc tấn công đổ bộ của họ vào Philippines gần như không có cơ hội thành công.
Tóm lại thì tình hình biển Đông đang diễn biến phức tạp
với sự leo thang căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines.
Các hành động khiêu khích và hung hăng của Trung Quốc
đang đẩy Mỹ tăng cường hiện diện quân sự
và khả năng tác chiến chung với các đồng minh trong khu vực
nhằm bảo vệ Philippines và duy trì ổn định khu vực.
Trong năm qua, Trung Quốc đã phớt lờ mọi cảnh báo từ Hoa Kỳ và các đồng minh
và tiếp tục làm những gì họ đã làm ở Biển Đông.
Ông Colin Cole, chuyên gia an ninh hàng hải
tại trường nghiên cứu quốc tế Zarasanam của Singapore cho hay,
các chuyên gia cho rằng Hoa Kỳ và các đồng minh
cần triển khai nhiều biện pháp mạnh mẽ hơn
để chống lại hành động xâm lược hàng hải dai dẳng của Trung Quốc
trên khắp Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương.
Họ cho rằng, những biện pháp này bao gồm tiến hành nhiều chuyến đi
qua vùng biển khu vực hơn, tăng cường sự hiện diện của các tàu hải quân
trong khu vực và khởi xướng tham vấn về hợp ước phòng thủ chung
giữa Hoa Kỳ và Philippines.
Nhiều quốc gia cần tiến hành các chuyến đi quốc tế
qua eo biển Đài Loan và Biển Đông,
điều chỉnh sự hiện diện của các tàu hải quân của họ
ở khu vực Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương,
tăng tần suất huấn luyện chung giữa các nước Đông Nam Á
và các đồng minh khác, và cân nhắc áp đặt lệnh trừng phạt đối với Trung Quốc.
Theo các báo cáo, hai tàu chiến của Đức là khinh hạm Ba Den-Wurtenberg
và tàu tiếp tế Frankfurt-Armen đang chờ lệnh về khả năng đi qua eo biển Đài Loan
trong quá trình quá cảnh từ Hàn Quốc đến Philippines.
Kể từ đầu năm 2024, các tàu hải quân Hoa Kỳ đã thực hiện ít nhất 4 lần
đi qua vùng biển quốc tế ở eo biển Đài Loan.
Vùng biển rộng 180 km, nằm giữa Đài Loan và tỉnh Phúc Kiến miền nam Trung Quốc.
Các tàu hải quân từ Canada và Hà Lan cũng đã đi qua eo biển này trong năm nay.
Trong những tuần gần đây, Hoa Kỳ đã tái khẳng định thiện trí hỗ trợ các nhiệm vụ tiếp tế của Philippines
tới các dạng san hô đang tranh chấp ở Biển Đông,
trong khi triển khai các phi đạn không đối không tầm cực xa tới Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương,
điều mà các chuyên gia cho rằng có thể xóa bỏ lợi thế viết tầm bắn trên không của Trung Quốc.
Trong khi Trung Quốc đang cố gắng thử thách quyết tâm của Washington
ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và gia tăng các hoạt động quân sự ở Tây Thái Bình Dương,
một số nhà phân tích cho rằng không rõ Bắc Kinh có thể duy trì cường độ và hoạt động hàng hải của mình trong bao lâu.
Mặc dù Trung Quốc vẫn có thể trì nhiều tiền hơn cho quốc phòng và thúc đẩy các yêu sách hàng hải của mình,
nhưng họ có thể làm được bao nhiêu trong tương lai thì vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải,
khi nền kinh tế của họ trưởng thành và nhân cầu học của họ gây sức ép nhiều hơn đến tăng trưởng.
Tuần trước, hãng thông tấn Reuters đưa tin rằng Trung Quốc đã trì 15 tỷ đô la vào năm 2023,
tương đương 7% ngân sách quốc phòng cho các hoạt động quân sự ở vùng biển ngoài khơi bờ biển phía Bắc
và eo biển Đài Loan, Biển Đông và Tây Thái Bình Dương.
Báo cáo cho biết dữ liệu này dựa trên nghiên cứu nội bộ chưa từng được công bố trước đây
do Lực lượng Vũ trang Đài Loan thực hiện.
Với việc Đảng Dân Chủ Tự do cầm quyền của Nhật Bản chuẩn bị bầu nhà lãnh đạo mới
và cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ đang bước vào những tuần cuối cùng,
các chuyên gia dự đoán là Trung Quốc sẽ duy trì mức độ hung hăng trên biển
tương tự ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong những tháng tới.
Lực lượng Hoa Kỳ đã sẵn sàng với nhiều phương án để đối phó với các hành vi hung hăng
đang ngày càng gia tăng ở Biển Đông.
Nếu được lệnh thực hiện chung và sau khi tham vấn với đồng minh hiệp ước là Philippines,
một đối đốc Hoa Kỳ cho biết ngày 29 tháng 8, đối đốc Samuel Paparo,
Bộ Chỉ huy trưởng Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ,
người đứng đầu số lượng quân tác chiến lớn nhất bên ngoài lục địa Hoa Kỳ,
từ chối cung cấp thông tin chi tiết về các lựa chọn giữ phòng mà ông đề cập.
Bình luận của ông Paparo được đưa ra khi được hỏi tại một cuộc họp báo về việc
hai đồng minh hiệp ước lâu năm là Mỹ và Philippines có thể làm gì để đối phó
với cái gọi là chiến thuật vùng sám của Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp.
Chiến thuật vùng sám ám chỉ các phương tức tấn công như bắn vòi rồng,
chặn và đâm hút vào tàu đối phương trong vùng biển tranh chấp,
nằm dưới ngưỡng của một cuộc tấn công vũ trang thực sự và sẽ không cho phép
Philippines viện dẫn hiệp ước phòng thủ chung năm 1951 với Hoa Kỳ.
Hiệp ước này bắt buộc một trong hai nước phải giúp đỡ nước kia
trong trường hợp bị tấn công vũ trang từ bên ngoài.
Ông Paparo nói, chúng tôi chắc chắn đã chuẩn bị một loạt các phương án
và luôn sẵn sàng nếu được yêu cầu sau khi tham vấn theo hiệp ước
để thực hiện các phương án đó cùng với đồng minh của chúng tôi.
Việc nêu chi tiết các phương án quân sự của Hoa Kỳ sẽ cho phép kẻ thù tiềm tàng
xây dựng biện pháp đối phó với những phương án đó, ông cho biết.
Ông Paparo đã tổ chức một cuộc họp báo chung với Tổng tư lệnh
lực lượng vũ trang Philippines tướng Romeo Browner
sau khi cả hai chủ trì một cuộc họp thường niên tại thành phố miền núi Baguio
ở phía bắc Philippines để thảo luận về các thách thức an ninh
và các kế hoạch quân sự.
Trong các kế hoạch quân sự đó có cuộc tập trận tác chiến Balikatan
lớn nhất của hai đồng minh hiệp ước diễn ra vào tháng 4
với sự tham gia của hơn 16.000 quân nhân Mỹ và Philippines
và một phần được tổ chức ở Biển Đông.
Trả lời một câu hỏi, ông Paparo nhắc lại rằng quân đội Hoa Kỳ sẵn sàng
sau các cuộc tham vấn hiệp ước với Philippines hộ tống các tàu Philippines
ở Biển Đông trong bối cảnh căng thẳng giữa Bắc Kinh và Manila
ở vùng biển tranh chấp gia tăng.
Viễn cảnh như vậy có nguy cơ khiến các tàu của Hải quân Hoa Kỳ
va chạm trực tiếp với các tàu của Trung Quốc.
Washington và Bắc Kinh đã có những xung đột về các hành động
ngày càng quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông
và mục tiêu tuyên bố sắp nhập Đài Loan của Bắc Kinh bằng vũ lực nếu cần thiết.
Tướng Browner nói, Philippines vẫn có thể tự bảo vệ mình
ở vùng biển tranh chấp, nơi căng thẳng với lực lượng cảnh sát biển,
Hải quân và các tàu dân quân của Trung Quốc đã tăng đột biến kể từ năm ngoái.
Nếu chúng ta đã dùng hết mọi phương án mà vẫn không có kết quả,
thì đó là lúc chúng ta có thể nhờ giúp đỡ, ông Browner nói với các phóng viên.
Khi lực lượng Philippines ở vùng biển tranh chấp đang bên bờ vực tử thần
vì nguồn cung cấp lực thực bị lực lượng Trung Quốc chặn lại,
thì đó là lúc chúng ta sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, ông Browner nói.
Nhưng cũng nói thêm rằng, chúng ta vẫn còn nhiều phương án.
Trong cuộc tập trận giữa lực lượng Hoa Kỳ và Philippines vào tháng 4,
quân đội Hoa Kỳ đã vận chuyển một hệ thống phi đạn tầm trung đến miền Bắc Philippines,
khiến Bắc Kinh tức giận.
Nước này cảnh báo rằng hệ thống phi đạn này có thể gây ra cuộc chạy đua vũ trang
cho khu vực và gây nguy hiểm cho sự ổn định của khu vực.
Bắc Kinh yêu cầu hệ thống phi đạn của Hoa Kỳ có thể đe dọa Trung Quốc đại lục
phải được rút khỏi Philippines.
Ông Paparo và ông Browner đã từ chối trả lời vào ngày 29 tháng 8 rằng
liệu hệ thống phi đạn này có được đưa ra khỏi Philippines hay không và khi nào.
Ông Browner cảm ơn quân đội Hoa Kỳ đã vận chuyển vũ khí công nghệ cao đến quốc gia này,
nói rằng lực lượng Philippines đang được tiếp xúc với các thiết bị quốc phòng tiên tiến
mà quân đội Philippines có kế hoạch mua trong tương lai.
Giống như những gì chúng tôi đã làm với Stinger và Javelin,
chúng tôi đã bắt đầu huấn luyện ngay cả khi chúng tôi chưa có trúng trong kho vũ khí của mình",
ông Browner nói.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay của chúng tôi cũng xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị để lại quan điểm cá nhân của mình ở phần dưới.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại.
