#BLVHảiThanh#HồNguyênTrừng #Súng#China#Chinese#TrungHoa#nhaho#hoquyly#NhàHồ#sungthancong #SÚNGTHẦNCÔNG #Su7#Sử7#Su7VietNam#XuavaNay NGƯỜI VIỆT NAM SÁNG CHẾ SÚNG THẦN CÔNG, GIẶC MINH PHẢI TẾ SỐNG Hồ Nguyên Trừng là một tài năng lỗi lạc người Việt, đã đi trước thời đại hàng trăm năm trong lĩnh vực kỹ thuật. Hồ Nguyên Trừng (1374 - 1446) là con trưởng của Hồ Quý Ly. Ông được mệnh danh là "Hỏa khí chi thần", là người đã chế ra súng "thần cơ", loại súng có uy lực mạnh nhất thời bấy giờ. Mặc dù có "thần cơ" nhưng "lòng dân không theo", năm 1407, cha con Hồ Quý Ly bị bắt. Trong dịp này, quân Minh đã bắt 17.000 người tài, thợ khéo của nước Việt đưa về Trung Quốc, trong đó có Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Nguyễn Trãi. Triều đại Nhà Hồ sụp đổ sau 7 năm tồn tại trong lịch sử nước ta.
Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị xử chết, riêng Hồ Nguyên Trừng được vua Minh Thành Tổ ân xá, vì biết tài của ông, nhưng bắt đổi sang họ Lê.
Hồ Nguyên Trường, con cả của Hồ Quý Ly, không chỉ là vị tướng tài mà còn là một công trình sư lỗi lạc.
Ông cũng là một nhà phát minh lớn. Ông được coi là ông tổ của nghề đúc súng thần công ở Việt Nam.
Việc ông lập một phòng tuyến chống giặc bắt đầu bằng cứ điểm Then Chốt, Đa Bang, Ba Vì
cáo dài theo bờ Nam sông Đà, sông Hồng cho đến sông Ninh thuộc Nam Hà
rồi tiếp tục theo bờ sông Luộc, sông Thái Bình đến Bình Than dài trên 400 km.
Đã tỏ rõ ông là một nhà quân sự kiệt xuất.
Hồ Nguyên Trường cũng sáng tạo ra cách đánh độc đáo.
Ông cho đúc nhiều dây xích lớn trăng qua những khúc sông hiệp trở, kết hợp với quân mai phục bằng hỏa lực mạnh,
từng khiến cho Thủy Minh Giặc nhiều fan khiếp đảm.
Tuy vậy, nói đến Hồ Nguyên Trường, người ta nói nhiều nhất đến công sáng chế ra súng thần cơ của ông.
Thời ấy, do yêu cầu chống giặc ngoại xâm, muốn có nhiều súng trang bị cho các thành trì và các hạm đội,
Hồ Nguyên Trường đã phải ở gấp rút tổ chức những sưởng đúc súng lớn.
Nhờ thông minh tuyệt vời và khả năng suy nghĩ phi thường, Hồ Nguyên Trường đã đúc kết những kinh nghiệm cổ truyền.
Trên cơ sở đó, phát minh, chế tạo ra nhiều loại súng có sức công phá sẫm xét.
Từ việc cải tiến súng, chế tạo súng, hiểu rõ sức nổ của thuốc đạn,
Hồ Nguyên Trường đã phát minh ra phương pháp đúc súng mới gọi là súng thần cơ.
Ông chính là con trai trưởng của vua Hồ Quỷ Ly và là hoàng huynh của vua Hồ Hán Thương sau này.
Ông làm tể tướng triệu Hồ, có nhiều đóng góp về khoa học quân sự và chỉ huy quân đội Đại Việt
trong cuộc kháng chiến chống minh của nhà Hồ từ năm 1406 đến 1407, rồi thất bại.
Trước đó, năm 1400, Hồ Quỷ Ly đã phế chuất Trần Thiếu Đế để lên ngôi vua, đặt quốc hiệu nước là Đại Ngu,
bởi vì họ Hồ có nguồn gốc từ Trung Quốc sang Việt Nam đến thời Hồ Quỷ Ly được 16 đời.
Hồ Quỷ Ly cũng muốn nhận mình là dòng dõi của Ngu Thuấn,
một trong 5 vị vua thời tam hoàng ngũ đế của Trung Quốc cổ đại, cho nên sau khi lên ngôi vua,
Hồ Quỷ Ly mới đặt quốc hiệu ta là Đại Ngu. Ngu ở đây nghĩa là an vui.
Lẽ ra là con trưởng, Hồ Nguyên Trường được lập ngôi thái tử nước Đại Ngu,
nhưng sau khi thử lòng các con, biết Hồ Nguyên Trường chỉ muốn làm quan,
Hồ Quỷ Ly lập con thứ Hồ Hán Thương làm thái tử.
Sau thì Hồ Quỷ Ly theo gương các vua Trần, nhường ngôi cho thái tử Hồ Hán Thương,
còn mình thì làm thái thượng hoàng, Hồ Nguyên Trường lĩnh trức tả tướng quốc.
Trong khi nhà Hồ cai trị Đại Ngu ở phương Bắc,
nhà Minh đã phận lên rất mạnh dưới sự cai trị của Minh Thành Tổ.
Minh Thành Tổ nhiều lần bộc lộ ý muốn xâm chiếm nước Đại Ngu,
qua việc cử người do thám ép vua Hồ Hán Thương phải cắt đất ở biên giới
và chi viện thủy quân cho chiêm thành ở phía Nam để chống Đại Ngu.
Thừa cơ nội tình nước Việt ta như thế, Minh Thành Tổ có ý định đem quân sang xâm lực nước ta.
Nhà Hồ cử tướng lên biên giới chặn giặc, nhưng tướng Hàn binh yếu và phải cắt đất cho giặc.
Trong cuộc họp bàn kế sách khẩn cấp, Hồ Nguyên Trường từng tậu rằng
thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo.
Sở dĩ Hồ Nguyên Trường nói như vậy vì trước đây đã có những cải cách,
những thay đổi lớn của Hồ Quỹ Ly, cùng với việc chiếm ngôi nhà Trần,
điều đó đã gây ra nhiều phản ứng quyết liệt trong giới sĩ phu đường thời, không thu phục được lòng người.
Cha con Hồ Quỹ Ly đứng trước thử thách hiểm nghèo,
phải đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của nhà mình.
Hồ Nguyên Trường như đã nói được giao chỉ huy đắp thành đa bang,
phòng ngự trên các tuyến sông và đưa quân đi đóng ở các nơi hiểm yếu.
Theo Đại Việt sử khí toàn thư, phòng tuyến kéo dài theo bờ Nam sông Đà,
sông Hồng cho đến sông Ninh, tiếp tục theo bờ sông Luộc, sông Thái Bình đến Bình Than, dài trên 400 km.
Ông còn chỉ huy nhiều trận đánh lớn như trận Lãnh Kinh năm 1406, trận phòng thủ đa bang,
các trận phản công sông Lô và Cửa Hàm Tử vào năm 1407.
Trừ trận Lãnh Kinh thắng lợi, các trận khác đều thất bại.
Ngoài ra, với vai trò là tổng công trình sư,
Hồ Nguyên Trường đã xây dựng thành Tây Đô trong thời gian rất ngắn, chỉ khoảng 3 tháng,
từ tháng Giêng cho đến tháng 3 năm 1397.
Ông còn là cha đẻ của thuyền Cổ Lâu, là một loại thuyền chiến có 2 tầng.
Nhưng lịch sử chống giặc ngoại sâm của nước ta, thắng vì có lòng dân,
thắng vì đánh du kích và bảo toàn được lực lượng,
thắng vì vườn không nhà chống, chứ không phải thắng vì thành cao, hào sâu.
Mặc dù có súng thần cơ, mặc dù có thành cao, tường chắc nhưng lòng dân không theo.
Năm 1407, cha con Hồ Quý Ly bị bắt.
Trong dịp này, quân Minh cũng đã bắt 17.000 người tài, thợ khéo của nước Việt để đưa về Trung Quốc.
Chiều đại nhà Hồ sụp đổ sau 7 năm tồn tại trong lịch sử nước ta.
Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đều bị xét xử.
Riêng Hồ Nguyên Trường được vua Minh Thành Tổ ân xá vì biết tài của ông, nhưng bắt phải đổi sang họ Lê.
Hồ Nguyên Trường là người có công lớn trong việc chỉ huy xây dựng cố cung Bắc Kinh cho nhà Minh.
Trong quá trình mà nhà Minh rời Đô từ Nam Kinh lên Bắc Kinh,
ông cũng giúp nhà Minh chế thần cơ, hiệu nghiệp hơn các loại súng đương thời của Trung Quốc lúc bây giờ.
Vậy, súng thần cơ của Hồ Nguyên Trường có gì đặc biệt?
Theo các nhà quân sự, súng thần cơ của Hồ Nguyên Trường có đầy đủ các bộ phận của loại súng thần công
ở những thế kỷ sau này.
Súng có nhiều loại, loại nhỏ dùng cho bộ binh bắn xa khoảng 700 mét,
loại lớn gọi là thần cơ pháo đặt cố định bảo vệ thành hoặc dùng xe kéo vận chuyển.
Cấu tạo súng gồm có các phần, thân súng dài 44cm, nòng súng dài 5cm,
trục quay, thước ngắm, lỗ điểm hỏa, khối hậu.
Trong đó khối hậu được đúc kín chứa thuốc nổ, nòng súng chứa những trái đạn, trục quay để điều trị góc bắn,
lỗ điểm hỏa để châm ngòi và thường được gắn thân bánh xe ở trục quay để cơ động.
Những cuộc khai quật tại thành nhà Hồ tìm được khá nhiều đạn đá hình cầu với nhiều kích cỡ khác nhau
và các nhà nghiên cứu tin rằng đây chính là đạn của súng thần cơ.
Đạn không chỉ được chế tạo từ chất liệu đá mà còn được chế tạo từ đất nung có độ cứng cao.
Khi bắn, viên đạn có sức công phá lớn.
Đạn có nhiều loại kích cỡ chứng tỏ có nhiều loại súng với cỡ nòng khác nhau.
Vào lúc thế giới còn đang thay ngán về súng Đại Bác thì súng thần cơ của Hồ Nguyên Trừng là một sang trễ vĩ đại.
Dù Trung Quốc là nơi phát minh thuốc súng nhưng trong cuộc xâm lực Đại Việt,
quân minh vẫn không tránh khỏi nỗi kinh sợ chiếc hỏa lực của thần cơ thương pháo.
Khi chiếm được những khẩu pháo này, họ rất đổi kinh ngạc và khâm phục
vì thần cơ thương pháo có rất nhiều ưu thế, ưu thế hơn hẳn vũ khí của quân đội nhà mình.
Họ nhanh chóng chở những cỗ thần cơ của Hồ Nguyên Trừng về nước,
dùng súng thần An Nam khi đánh với Mông Cổ.
Đánh giá về hiệu quả của phát minh này, Sử tướng Việt ta cũng ghi lại,
Đại Việt Sử ký Toàn Thư còn chép rằng sát chết cao ngang với Thành khi mà súng đã nổ.
Vì có tài năng về mặt kỹ thuật quân sự, Hồ Nguyên Trừng được làm quan ở Bộ Công,
trải qua 4 đời vua nhà Minh, Minh Thành Tổ, Minh Nhân Tông, Minh Tuyên Tông và Minh Anh Tông,
kinh qua ca chức Lan Trung, Hữu Thị Lan, Tả Thị Lan.
Đến năm 1445, Hồ Nguyên Trừng được thăng lên chức Thượng thư Bộ Công
dưới thời của vua Minh Anh Tông, chức vụ tương đương với Bộ trưởng bây giờ.
Nhà Minh gọi ông là Hỏa Khí Tri Thần.
Trong sách Việt Nam Vân Đài Loại Ngữ, Lê Quỳ Đôn nhắc đến một tình tiết,
quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế trừng. Trừng ở đây chính là Hồ Nguyên Trừng.
Trong thời gian bị lưu đầy ở Trung Quốc, Hồ Nguyên Trừng vẫn đau đáu nỗi niềm cố quốc.
Ông lấy hiệu là Nam Ông, tức là ông già nước Nam,
viết tập sách Nam Ông Mộng Lục, ghi lại những giấc mơ của ông già nước Nam.
Qua tập này, người ta có thể hình dung phần nào về đất nước con người Việt Nam
cách này hơn 600 năm với tín ngưỡng phong tục tập quán được ghi lại chân thực và sinh động.
Năm 1446, Hồ Nguyên Trừng mất vì bệnh ở tuổi già, thọ 73 tuổi,
có nghĩa là ông chỉ làm chức Thượng Thư Bộ Công được một năm rồi bệnh mất.
Một ông an táng tại Sườn Núi Ngọc Đài, thôn An Nam Hà phía tây của Thánh Bắc Kinh.
Con trai ông là Thúc Lâm và Thế Ninh sau này cũng làm quan chủ minh.
Dù có những lời bình phẩm phán xét về cuộc đời của Hồ Nguyên Trừng,
nhưng không thể phủ nhận ông là một tài năng lỗi lạc của nước Việt ta,
đã đi trước thời đại hàng trăm năm trong lĩnh vực kỹ thuật,
một lĩnh vực mà không phải lúc nào người Việt ta trong thời cổ cũng thực sự giỏi.
Trong thời gian Hồ Nguyên Trừng làm quan ở Trung Quốc,
thì đất nước ta rơi vào ách đổ hộ của nhà Minh.
Rất nhiều cô khởi nghĩa đã nổ ra, và cũng từ miền đất Thanh Hóa,
cô khởi nghĩa Lam Sơn do lê lợi lãnh đạo cuối cùng vào năm 1427
đã giành thắng lợi đánh bại quân xâm lược nhà Minh,
giành lại độc lập, tự do cho dân tộc ta.
Cảm ơn các bạn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này, câu chuyện về Hồ Nguyên Trừng.
Còn bây giờ thì xin được nói lời chào tạm biệt.