"Hành Trình Đế Chế Du Mục Nghiền Nát Thế Giới | Mông Cổ Từ Thảo Nguyên Tới Tro Bụi Tập 2
Chỉ trong chưa đầy một thế kỷ, từ những bộ tộc du mục bị khinh rẻ giữa thảo nguyên, người Mông Cổ đã tạo nên cơn bão cuốn phăng mọi đế chế từng tồn tại. Họ đốt cháy kinh thành, nghiền nát quân đội, san bằng những nền văn minh từng tự cho là bất khả xâm phạm. Từ Trung Quốc, Ba Tư đến Đông Âu – không một cường quốc nào có thể ngăn vó ngựa của họ. Vậy điều gì khiến một dân tộc không thành trì, không công nghệ vượt trội… lại có thể thống trị tới 16% diện tích đất liền toàn thế giới?
👍 CD Media - Khám Phá là nơi mở ra cánh cửa tri thức về những bí ẩn, câu chuyện kỳ thú và những hiện tượng chưa được giải đáp trong thế giới xung quanh chúng ta. Dựa trên việc tham khảo các nguồn thông tin phong phú và đa dạng, kênh kết nối những kiến thức và quan điểm khác nhau, giúp khán giả có được cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về những bí mật từ tự nhiên, khoa học, vũ trụ, con người,….
Sau khi Thiết Mộc Trần xừng ngồi Đại Hán năm 1206,
các bộ tộc Du Mục rời giặc nơi Thảo Nguyên đã thống nhất về một mối dưới chiến kỳ của người Mông Cộng.
Từ khoảnh khắc đó, bãi che lịch sử chuyển động dữ dội,
cuốn phang mọi vương chiều từng thống trị từ Đông sang Tây.
Điều gì khiến những đoàn kỵ binh chỉ với 2 triệu người,
có thể khuất phục hơn 100 triệu thần dân khi ấy.
Làm sao một dân tộc Du Mục lại xây dựng được mạng lưới cai trì hiệu quả
Năm 1209, quân Mông Cổ phát động chiến dịch đầu tiên nhắm vào vương chiều Tây Hạ.
Tư liệu lịch sử ghi lại rất ít về sự kiện này,
nhưng dường như Thánh Cát Tư Hãn đã chiếm thế thượng phong trên xa trường.
Tuy nhiên, đạo quân Du Mục gặp trở ngại lớn khi phải đối diện với những pháo đài bất khả sập phạm.
Trải nghiệm đó giúp họ nhận ra vai trò sống còn của kỹ thuật vây hãm trong chiến tranh.
Ở vùng Đông Bắc, triều đình nhà Kim vẫn khinh miệt Mông Cổ,
coi họ là đám người man di nơi Thảo Nguyên.
Khi Tây Hạ cầu cứu, họ phớt lờ, thậm chí còn dọ bắt tộc Du Mục phải thần phục.
Đến tháng 2 năm 1211, triều Kim phải trả giá đắt cho sự ngạo mạn của mình.
Thánh Cát Tư Hãn triều tập các bộ lạc để chuẩn bị xâm lược trùng nguyên.
Nhà Kim mặc dù xây dựng dân số áp đảo với khoảng 800.000 lính bộ binh và 150.000 kỵ binh nặng tình nguyện,
nhưng hệ thống phòng thủ lại bị chia nhỏ dọc và rải rác ở nhiều biệt lập.
Trái lại, quân Mông Cổ có 90.000 chiến binh tình nguyện,
được đào tạo nghiêm ngặt, tuyệt đối trung thành với đại thống xoái.
Sau khi vượt qua phòng tuyến, quân Mông Cổ chia thành 2 mũi tấn công chủ lực.
Đại hãng chỉ huy 60.000 người tiến về phía ải cư Dung,
trong khi oa khoát đài dẫn cánh phụ tấn công Đại Đồng.
Quân chính bị chặn tại dây núi Hiểm trở giã Hồ Lĩnh,
nơi lực lượng nhà Kim đã mai phục từ trước.
Người Mông Cổ án binh bất động trong nhiều tuần, chưa thấy cơ thuận lợi.
Đồng thời, 2 tướng thân tín là Chiết Biệt và Tốc Bất Đài
đã dẫn một nhóm nhỏ vượt núi tập kích pháo đài ô sả.
Cứ điểm này bị tiêu diệt hoàn toàn chỉ trong trận đánh chấp nhoáng.
Ngày sau khi thắng lợi, cành quân thứ 2 nhanh chóng hợp nhất
với lực lượng chính đang chở Thủng Lũng.
Cuộc tổng phản công nổ ra giữa vùng núi dốc Đúng,
khiến phòng tuyến nhà Kim vỡ trận từng lớp.
Người Hán còn sai quân vượt xương nối hiểm, bất ngờ đánh từ phía sau.
Chiết Biệt vẫn dùng chiến thuật giả thua, vờ tháo chạy,
bỏ lại chiến lợi phẩm để dụ đối phương truy kích.
Quân Kim rời bỏ thanh lũy đuổi theo, không hề biết đã xả bẫy.
Ngày lập tức, hàng nghìn cung thủ Mông Cổ từ 4 hướng tấn công.
Phòng tuyến bị đập tan, con đường tiến vào Trung Hoa hoàn toàn rộng mở.
Sau khi càn quét khắp vùng nông thôn, quân Mông Cổ rút về nghỉ đông,
chuẩn bị cho giai đoạn kế tiếp.
Năm sau họ lại tràn xuống, lần này vây chặt thành đại đồng.
Tại đây thì các từ Hán trúng tên trọng thương, buộc phải rút lui khi gió lạnh kéo tới.
Dẫu vậy, cuộc rút quân mang theo nhiều bài học quý giá về kỹ thuật công thành và thói quen kẻ địch.
Đến năm 1213, chiến dịch được nối lại với sự cơ động áp đảo từ đội hình kỵ binh thiện chiến.
Phòng tuyến Kim nhanh chóng giạn nứt trước đòn đánh như vũ bão từ Thảo Nguyên.
Miền quê tan hoang, làng mạc khoảng loạn, quân triều đình chưa kịp ưng cứu đã bị chặn đường.
Từng trận đánh như nhát cát sâu vào lòng đất địch khiến hậu phương rối loạn không ngừng.
Nhiều thành trí xin hàng, dân chúng hoặc bị sát hại, hoặc bị bắt làm lao dịch.
Chỉ một số nghề đặc biệt như thầy thuốc, tu sĩ, thường nhân, quan lại hay giáo sĩ mới được thà.
Những nghề này được trọng dụng, khuyến khích tham gia phụng sự cho đạo quân Viện Trình.
Thống hít tù binh trở thành khiến sống, bị buộc đi đầu trong các cuộc vầy hãm sau đó.
Khi toàn bộ vùng phía Bắc Hoàng Hà thất thủ, Mông Cổ lập tức xiết vòng vây quanh Bắc Kinh.
Thay vì công phá trực diện, họ cắt đứt mọi đường tiếp đế để khiến kinh thành kiệt quệ.
Vài tháng sau, dịch bệnh hoành hành trong trại vây, bộ quân Mông Cổ tạm dừng chiến dịch.
Một hiệp ước được kỷ kết.
Hoàng đế Kim dâng công phẩm, chiến mã, nhân công và công chúa để giữ mạng.
Đoàn quân trên tháng rút lui, mang theo hàng vạn chiến lợi phẩm trở về Đại Mạc.
Nhưng khi vừa vượt qua trường thành, một kỳ sĩ cấp báo rằng triều đình Kim đã rời đầu về khai phòng.
Tin tức ấy khiến thành các tử Hán nổi giận, bởi nó cho thấy đối thủ vẫn chưa khuất phục.
Lập tức đại quân quay trở lại Bắc Kinh.
Lần này được trợ giúp bởi khỹ sư và thợ thủ công nghệ Hán,
khiến trường thành bị phá sập, lửa làn khắp nơi, biến mọi thứ thành trò tàn.
Trong nhiều tuần, đoàn xe chở chiến lợi phẩm nối dài, lạng lẽ rời khỏi thành phố.
Từ đám dân du mục từng bị khinh rẻ,
người Mông Cổ đã quật ngã cả một vương triều đông dân chỉ bằng thép và ngựa.
Ngay sau đó, cơn cuồng nộ của Thảo Nguyên bắt đầu hướng về phía Tây.
Năm 1205, độc Nai Man bị đánh tan không chút nhân nhượng dưới tay thành các tử Hán.
Thủ lĩnh Cúc Lúc tháo chạy và giạt về lãnh thổ Tây Liêu.
Quốc gia Trung Á gió hậu rễ khiết đàn lập nên.
Tại đó, Hoàng đế Trí Lục Cự đã kết nạp người này và gả con gái cho.
Nhưng chỉ hai năm sau, Cúc Lúc trở mặt, cướp ngôi trả.
Năm 1216, Hán vượt biên, công phá An Malik, thành phố do quân Mông Cổ bảo hộ.
Đáp trả, Đại tướng Chiết Biệt được phái đi và giành thắng lợi tại trận Balasagun.
Chưa đầy hai năm sau, toàn cói Tây Liêu sụp đổ, chuyển sang quy phục Đại Hán.
Lúc này, quân Mông Cổ đã tiến sát biên giới của Hoa Thích Tử Mô,
đế quốc do người tất cải trị, chịu ảnh hưởng của Ba Tư.
Với hy vọng thiết lập quan hệ hữu hảo, thành các tử Hán gửi tặng lễ vật giả Hoa.
Tuy nhiên, viên thống đốc tại đây nghi ngờ gian ý, bắt giữ phái đoàn, còn sự tử xứ giả.
Hành động này khiến thành các tử Hán nổi giận.
Ông thu thập tình báo qua con đường Tờ Lụa, huy động kỹ sư công thành từ phương Đông để trả thù.
Chiến lược Ba Mũi Giáp Công được vạch ra kỹ lưỡng, khai hỏa giữa mùa độc khắc hiện.
Chột xích và chết Biệt vượt thiên sơn, đánh Úc và Ghana bằng đạo quân 20.000 người.
Đoàn nghi bình khiến đối thủ tưởng đây là hướng chủ lực, rút lực lượng từ các thành trọng yếu.
Trong lúc ấy, sát hợp đài cũng qua khoát đài, tấn công Âu Tra, nơi từng giết sứ giả.
Sau 5 tháng công phá, như một kẻ nội gián mở cổng cho, quân Mông Cổ đã ô ạt tràn vào thành.
Nơi này nhanh chóng thất thủ, dân bị đồ sát.
Kẻ từng ra lệnh bắt phái đoàn bị đồ bạc nung ngóng vào họ.
Tiếp theo, thành các tử Hán vượt Sama Kizikun, tiên đánh Bukhara từ hướng bất ngờ.
Đến tháng 3 năm 1220, Samakan, kinh đô của Hoa Lạc Tử Mô, sụp đổ sau 5 ngày bị bảo vây.
Nhà vua phải tháo chảy, nhưng bị trùi đổi gió giết.
Ngay sau khi chiếm thủ đô, quân Mông Cổ chia hai hướng tiến đến vùng đất dầu có Âu Ken.
Chợt xích tấn công từ phía Bắc, thành cán tử Hán áp sát từ phía Nam, khóa mọi đường xuất lung.
Sau nhiều ngày câm cự, thành bị đánh hạ, nhưng chợt xích chọn cách đàm phán thay vì quỷ diệt.
Sự mềm mỏng này khiến phụ thần giận dữ, giao quyền chỉ huy cho qua khoát đài.
Toàn thành bị săn bằng, cư dân không còn ai sông sót, máu đỏ nhuộm dòng sông chảy qua.
Hành động đó cũng khiến chợt xích bị gãy lạnh, mối bất hòa cho con kéo dài suốt nhiều năm.
Khi ở Gen Hóa Cho, con út của đại hãn là Đà Lôi dẫn 50.000 quân đánh vào sâu bên trong vùng Khorasan.
Bắc, Meru, rồi Nisapur, lần lật gục ngã, dưới vó ngựa sắt, không nơi nào trụ vững.
Chỉ những đô thị chịu khuất phục ngay từ đầu như Herat mới tránh được thảm sát.
Để kiểm soát vùng đông dân cư, quân Mông Cổ thi hành chiến thuật dèo rắc khiếp đảm,
hủy dèo thang loạt để khiến mọi nơi đầu hàng ngay khi nhìn thấy khói lửa.
Dưới chân dãy núi Hindukus, Khoang tử Gala Adin của Khoa Thích Tử Mô,
quy tụ 60.000 chiến binh Tấc và Afghanistan khẳng cự.
Thành các tử hán lập tức phái Sigi Kutuku, dẫn theo 30.000 quân ngành chiến.
Cuộc động độ diễn ra ở Thùng Lũng Hẹp Pao Quan, nơi kỵ binh khó phát huy sức mạnh.
Gala Adin chủ động khai chiến, giao lệnh bộ binh xuống ngựa, bắn tên dồn dập làm trao đảo trận địa định.
Lần đầu tiên, quân Mông Cổ trùn chân trước làn tên dày đặc từ đội hình áp đảo.
Gala Adin chấp thời cơ phản công, tùng kỵ binh quét sạch đội hình đối phương.
Một nửa binh lực Mông Cổ bị tiêu diệt, phần còn lại tháo chạy.
Thất bại này làm tàn vỡ uy danh vô địch, khơi dậy hàng loạt cuộc nổi dậy.
Thành các tự hãn cùng đảo lội buộc phải ở lại một tháng để dập tắt phản loạn.
Nhưng phía Gala Adin cũng không giữ được thế thượng phong, nội bộ nhanh chóng trở rẽ.
Chỉ còn 20.000 quân, ông phải rút về phương Nam, tìm đường sang Ấn Độ.
Đại hãn phát động truy kích thần tốc, vượt qua Punjab trong 2 ngày đêm không ngừng nghỉ.
Khi Gala Adin sắp vượt xong, quân Mông Cổ bất ngờ tập kích dữ dội,
khiến kẻ thù không kịp trở thành.
Nhưng tung tích của Gala Adin vẫn biệt tăm.
Dẫu vậy, gần như toàn bộ lãnh thổ hóa thích tử mô đã nằm dưới tay Mông Cổ.
Ngay sau đó, báy xe trinh phạt của đế quốc Du Mục lan về hướng Tây.
Khi không đuổi kịp Gala Adin, 2 viên tướng tốc bắt đài và chết biệt
đem 20.000 quân cắm trại ở giơ Bài Gian suốt mùa đông 1220.
Tại đây họ cướp phá làng mạc và ngăn chặn mọi đạo binh tiếp viện từ phương Tây.
Giữa bước cành đó, một kế hoạch táo bảo về trinh sát chiến lược bắt đầu hình thành.
Sáng năm 1221, quân Mông Cổ tiến vào lãnh thổ Georgia,
quét sạch mọi nơi để vờ vét lưng thảo.
Khiver George, đệ tứ, huy động lực lượng, bao gồm cả lực lượng từng tham gia thập tự trình.
Tại trận Khunan, tốc bắt đài giả thua, như kỵ binh tách khỏi bộ binh, rồi bao vây và tiêu diệt.
Sau chiến thắng, họ quay về Iran và tiếp tục thiêu dụi nhiều thành phố giàu có.
Trước đầy vài tháng, đoàn quân lại tràn qua Georgia, vượt dãy Capcat, tiến về phương Bắc.
Tại đây, họ trạm trán liên minh Lezgins, Alans, Kipchaks và Bulgars với hơn 50.000 chiến binh.
Đợt tấn công đầu tiên bị đẩy lùi khiến Mông Cổ phải tạm lùi về thủ thế,
vì đối phương chọn cố thủ, chờ quân địch cạn kiệt lương thực.
Trong tình thế căng thẳng, tốc bắt đài âm thầm mua chuộc người Kipchak, khiến họ bỏ trại trong đêm tối.
Lên dụng thời cơ, quân Mông Cổ tấn công tổng lực, tiêu diệt toàn bộ đội hình còn lại.
Không dừng ở đó, họ truy sát cả đoàn Kipchak đang tháo trại, rồi thiêu hủy thành Archakhan, biển sông Bulgar.
Sau khi tới Thảo Nguyên, hai tướng chia quân.
Chết biệt, tiến liên đền Úp, tốc bắt đài kéo xuống Crimea.
Tại vùng bán đảo, người Mông Cổ thiết lập quan hệ với giới thường nhân Venice để kiểm soát các tuyến giao thường.
Trong lúc ấy, tàn quân Kipchak chạy về cảnh báo các lái địa Rus.
Khi ấy, vùng đất Nga, Ukraine bị chia cắt thành hàng chục công quốc độc lập.
Đối mặt thiềm họa lớn, các phương hậu liên kết với Kipchak, lập nên đạp quân 60.000 kỳ sĩ.
Mông Cổ nhanh chóng hợp quân, phái xứ thân đề nghị Rus đứng ngoài giao tranh.
Tuy nhiên, xứ giả bị giết, đối đầu vũ trang không thể tránh khỏi.
Liên quân tiến sát sông Denis, lên kế hoạch bao vây toàn bộ đội hình địch.
Tốc Bất Đài quyết định hy sinh 1.000 binh sĩ để cản mũi trùy kích, bảo toàn lực lượng chủ chốt.
Nơi bộ Rus bất động, một bên mua tấn công, về bên kia thiên về phòng thủ.
Ấp lực từ Kipchak khiến nhóm chủ chiến nắm quyền điều động.
Tuy nhiên, các anh quân hành quân rời rạc không có hợp kịp thời.
Đến ngày thứ 9, đội tiên phong Kipchak rơi vào ổ phục kích bên sông Kanka.
Tốc Bất Đài giả vờ rút lui, kéo đối phương vào bẫy trong thế trận chia cắt.
Khi mọi vị trí đã ổn định, ông Tung dáp binh đánh mạnh vào quân Rus.
Cùng lúc, cung kỵ thủ bắn tiên rôn rập, khiến hàng vũ sáu rối loạn nghiêm trọng.
Chiến trường trở nên đẫm máu.
Chỉ còn nhóm Mystic Slav, Sukiyev còn giữ được đội hình nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng.
Họ tạo hợp 10.000 quân, dựng vòng xe trên đồi, tử thủ giữa vòng vầy.
Tuy nhiên, Mông Cổ khép trách ông Kip.
Chỉ 1 phần 10 quân Rus sống sót sau cuộc thảm sát.
Sau đó, Tốc Bất Đại vượt biển Caspi, quét sạch tàn quân Kipchak và đánh tan người Volga-Bulgar.
Tùy không chiếm giữ lãnh thổ, cuộc viễn trình này đem về thông tin quý giá về châu Âu,
giúp người Mông Cổ chuẩn bị chú đáo cho những lần tấn công trong tương lai.
Vừa trở về, Tốc Bất Đạt được lệnh trừng phạt Tây Hạc.
Vương quốc không tham gia chiến dịch trước đó.
Thành các từ Hán đích thân dẫn quân, phát động cuộc tấn công không khoan nhượng.
Lần này, kỹ thuật vây hám và hiểu biết địa hình giúp họ chiếm lưu thể tuyệt đối.
Dù thắng lời dễ dàng, nhưng Đại Hán bất ngờ bị ngã ngựa, thường tích nặng và lên cơn sốt kéo dài,
cho nên đã qua đời vào ngày 18 tháng 8 năm 1227.
Trước khi mất, ông đã phân định lãnh thổ cho 4 người con trai.
Hoa Khoát Đài, con thứ 3 trở thành Đại Hán và điều hành trung ương.
Chợt Sích, con trưởng, nắm quyền tại các vùng đất phía Tây, bao gồm Ba Tư.
Xác hợp đài các quan thảo nguyên Trung Á, trong khi đà lôi bảo vệ nội địa.
Việc phân quyền này tạm rời giữ ổn định, nhưng Ngâm Mỹ mầm móng chia rẽ.
Sau khi lên ngôi, Hoa Khoát Đài dân cải thổ triều đình theo hướng định chế thuế khóa rõ ràng.
Liên quốc Mông Cổ bước vào thời kỳ mở rộng trên cả 3 hương lớn.
Phi Nam, họ trinh phạt Trung Quốc lục địa. Hương Tây thì bình định Iran, Caucas và Tây Á.
Còn vùng đất Tây Bắc sẽ tiếp tục tiến sâu vào Đông Âu và nước Nga Trung Cổ.
Năm 1235, Đại hội Kurultai địch triệu tập, quyết định phát đầu chiến dịch xâm lực châu Âu.
Đạo quân chính quy gồm 130.000 kỵ bình do Bạt Đô, trưởng tử của Chợt Sích, thống lĩnh tiến công.
Trong 2 năm, Volga-Bulgaria bị chinh phục, rồi lân lượt đến các vùng A Lan, Kipchak và Crimea.
Cuối mùa hạ năm 1237, toàn bộ lãnh thổ phía đông Sông Đông đã đổ chục.
Tháng 11, Sứ thần Mông Cổ được triêu định của Đại công tước Yuri Đệ Nhị của Vladimir Sudan.
Tuy nhiên, Yuri Đệ Nhị đã từ chối yêu cầu đổ hạ. Nhưng chỉ 3 tháng sau, thủ đô Vladimir hóa thành choa bụi.
Trong 2 năm 1238 và 1239, các công quốc Rus lân lượt bị đánh tàn, nhiều thanh thị biến mất khỏi bản đồ.
Mông Cổ chưa lực lượng thành nhiều cánh, đánh thọc từng cụm, phá vỡ khả năng tập trung quân của kẻ thù.
Trần quyết chiến diễn ra bên Bursit, nơi đề chế Du Mục giành toàn thắng.
Chỉ các thành phố Notgorod và Pskov giữ được bình yên vì đã quy thuận từ trước.
Tháng 12 năm 1240, Kiev, trung tâm văn trị và tôn giáo lớn nhất của Rus, thất thủ sau đợt vây công kéo dài.
Không dừng lại, Bắt Đô quyết tâm đưa váo ngựa tiến về lòng trào Trung Âu.
Sinh thời thành các tư hãng từng bắt tay Venice, đổi tình báo lấy thương quyền.
Giờ đây, liên minh đó phát hủy hiệu lực.
Nghĩ cung cấp toàn bộ tin tức cần thiết về lục biển.
Cuối năm 1240, kế hoạch đánh Ba Lan và Hungary đã hoàn tất.
Bắt Đô cử sứ giả đến gặp Đại công tước Henry để nhị, vào Vobela để tứ, nhưng lại bị sư phục.
Quân Mông Cổ lập tức chừa 3 mũi.
Nghi binh Ba Lan, trung lực vượt Capatia, còn lại theo dòng đen ước.
Đầu 1241, Ba Lan chìm trong lửa đạn, pháo đài sụp đổ, dân cứ ly tán.
Kỳ binh Mông Cổ chia nhỏ từng cụm, đánh thẳng vào các vùng chưa kịp phòng thủ.
Nỗ lực phản kháng bị nghiền nát bởi đòn giả lùi, bẫy phục kích điện hình của đế quốc Dù Mục.
Trận đánh chính diễn ra dữ dội, châu Âu thất bại nạng nể.
Cùng thời điểm, cánh quân khác tràn qua Hungary từ phía đông.
Ban đầu vẫn phải kháng cự, nhưng sau 2 hướng giáp công đã phá vỡ hàng thủ.
Sau 3 đợt xung phong không thành, quân Hungary tháo lui qua hành lãng suy nhất.
Tại đây, phục binh Mông Cổ đợi sát, thiếu diệt gần như toàn bộ đội hình.
Chỉ trong 2 ngày, 2 cường quốc Trung Âu lần lượt diệt vọng.
Kỳ binh Mông Cổ tiếp tục cán quét và tiến sâu thêm nữa.
Họ ưu hiếp Serbia và buộc Bulgaria quy phục.
Châu Âu lục địa chìm trong cơn ác mộng chưa từng thấy.
Giáo hoàng kêu gọi thập tự trình, hoàng đế là mã thần thánh khẩn cấp điều bình ứng phó.
Mông Cổ dự tính săn bằng toàn bộ lục địa, tiến thẳng đến Đại Tây Dường.
Nhưng kế hoạch sang dở khi đại hãn Hoa Khoác Đái qua đời vào cuối năm 1241.
Bạt đồ buộc phải dẫn quân quay về Mông Cổ để giữ hội nghị bầu chọn người kế vị.
Châu Âu thoát thảm họa trong gác đất.
Sau thất bại tại Sông Ấn năm 1221, hoàng tử Gialaddin tháo lui về vùng cuốn giáp.
Khi không đạt được liên minh về Delhi, ông bị tấn công, buộc phải trốn sang Iraq.
Năm 1224, ông tự lục vương tại Tabriz, mở dòng thế lực đến Karpkaz, đánh hạ Azerbaijan, đánh tan Bulgaria.
Tháng lệ ngán ngủi khiến các nước xung quanh đông loạt nổi dậy.
Năm 1231, ông bại trận, trốn sang Thổ Nhĩ Kỳ rồi bị sát hại.
Sau đó, Mông Cổ hoàn toàn chinh phục Sèo Dúc, Silesia, Georgia.
Năm 1251, Mông Kha đăng cơ đại hãn, giao Hòa Nam cho Hốt Tất Liệt, giao Ba Tư cho Húc Liệt Ngột.
Đến năm 1256, Húc Liệt Ngột kéo quân sang Tây Á, tiêu diệt tàn quân Hoa Thích Tử Mô và giao phái Hassassib.
Sau khi kiểm soát Iran, ông gửi tối hậu thư đến Khalif al-Mustasim nhưng bị từ chối.
Quân Mông Cổ liên tấn công Baghdad, đô thị phồn thịnh bậc nhất khi ấy.
Ngày 10 tháng 2 năm 1258, thanh sụp đổ, kho tàng trí thức bị thiêu hủy, Khalif bị sử tử.
Từ đó, Thế lực Hồi giáo chuyển trục về Hai Cập.
Tiếp đó đến các nơi như Aleppo, Damascus, Khuất Phủng.
Tuy nhiên, đại hãn Mông Kha lại đột nhiên qua đời khiến Húc Liệt Ngột rút phần lớn lực lượng về Nội Mông
để tướng Kipuka giữ Lê Văn với 25.000 bệnh sĩ.
Ông cố gắng liên minh với các nước thập tự trình nhưng đều bị khước tử.
Trong khi đó, quân Mangluk Ai Cập nhanh chóng kéo tới Palestine với lực lượng áp đảo.
Tại Ain Jalut, đội hình Mông Cổ rơi vào bẫy phục kích của Baibars và Qutuz.
Kipuka từ trận, quân Mông tàn vỡ, lần đầu tiên địa chế Rumuk bị đánh bại trên chiến trường lớn.
Chiến thắng đưa Mangluk lên ngồi bá chủ Hồi giáo, ngăn chặn cơn lũ trinh phản sang phương Tây.
Nội chiến nổ ra, địa chế Rumuk không thể phục thụ.
Trong khi đó, ở Trung Hoa, Khuất Tất Liệt quyết tâm thâu tóm toàn bộ vùng đất rộng lớn này.
Em trai là Alibatka tự xưng đại hãn tại cố đô Karakorum.
Việc này chấm ngòi cho cuộc nội chiến tranh giành quyền lực của địa chế Mông Cổ.
Ở phía Tây, một thủ lĩnh khác là Biet Nhi Ka không đương tình với việc phá hủy Baghdad,
nên tấn công lãnh thổ của hút liệt ngột, người đang kiểm soát vùng Iran.
Đế quốc Mông Cổ lúc này bị chia cắt thành nhiều phẻ.
Khuất Tất Liệt tập trung đánh phía Bắc, giúp nhà tống của Trung Hoa tạm thời lấy lại một số vùng đất.
Alibatka thì cố giữ quyền kiểm soát vùng Trung Á, nhưng liên tục thất thế.
Cuối cùng, sau nhiều thất bại và bị đồng minh bỏ rơi, người này buộc phải đầu hàng.
Khuất Tất Liệt chính thức trở thành Đại Hán mới.
Cùng lúc đó, cuộc chiến giữa hai nhánh Mông Cổ ở phía Tây cũng kết thúc sau cái chết của các thủ lĩnh lớn.
Từ đây, địa chế từng thống nhất giới thành các tựa Hán, tàn dão thành bốn quốc gia riêng biệt.
Sau khi nội chiến kết thúc, khuất Tất Liệt tập trung xây dựng Triều Nguyên.
Ông Giời Đô về Đại Đô, này là Bắc Kinh, và Sương Hoàng Đế năm 1271.
Chính quyền Trung ương được tổ chức trạt trẻ, quân đội tài cấu trúc với lính Hán là lực lượng chính.
Nhằm hoàn tất việc thống nhất Trung Hoa, ông nhận ra cần thay đổi cách đánh.
Nhà Tống tuy yếu trên đồng bằng, nhưng có hệ thống thành trị kiên cố.
Muốn khuất phục đối thủ, người Mông Cổ cần thay đổi phương thức từ giao tranh trực tiếp sang bao vây và cổng phá.
Trị tuyến kiên cố bậc nhất của Triều Tống nằm tại Tương Dương,
nơi sở hữu hai lớp tường phòng thủ cùng nguồn lưng thực dồi dàng.
Hồ Tất Liệt cho đóng 5.000 chiến thuyền, tuyển mộ thủy thủ người Hòa Bắc và Triều Tiên
nhằm kiểm soát hệ thống sông, cách có đường tiếp tế của địch.
Hàm đội mới gồm 70.000 lính thủy tinh nhuệ, đánh dấu bức hoạt trong cách đánh của Quân Nguyên.
Cuộc vệ ám Tương Dương kéo dài 6 năm, vì đây là cửa ngõ thèn chốt điệt phiến xuống phía Nam.
Nhà Tống cố gắng giải vây, nhưng thất bại.
Cuối cùng phà bà đá kiểu mới có sức công phà lớn đã khiến thành xúc đội nhanh chóng vào năm 1273.
Sau đó Quân Nguyên tiến lên chiếm lấy miền Nam.
Nhà Tống đưa triệu bính khi ấy 18 tuổi lên ngôi để cố gắng giữ chiều quyền.
Ngày 19 tháng 3 năm 1279, trận hải chiến Nhai Môn nổ ra.
Tuy con số chỉ 31 phần 10 người, lực lượng Nguyên vẫn tiêu diệt toàn bộ đội hình Triều Tống.
Hơn 100.000 bình sĩ quang lại cùng tuy tung bỏ mạng.
Trong đó có hoàng đế cuối cùng cứu trò đại này là Tống Đế Bính.
Cuộc chinh phục Trung Quốc của người Mông Cổ đã kết thúc sau 74 năm
và cướp đi sinh mạng của tới 25 triệu người Hán khi chiến tranh, bệnh dịch và nạn đói.
Qua nhiều thập kỷ, người Mông Cổ đã xây dựng như một đế chế bất khả chiến bải từ những vùng đất hoang tàn.
Thế nhưng ngay trong ánh hào quang trói lợi ấy đã lè lòi dấu hiệu dạng nước,
màu thuẫn quyền lực và những cuộc tranh đoạt thầm lặng đành trờn hè bụng bát.
Câu trả lời sẽ có trong phần tiếp theo.