Trận Huế Mậu Thân 1968 là một trong những cuộc giao tranh đô thị khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, nơi từng con phố và từng công trình trong cố đô trở thành chiến tuyến. Trong Trận Huế Mậu Thân 1968, lực lượng tinh nhuệ của Hoa Kỳ đã buộc phải thay đổi chiến thuật và sử dụng hỏa lực mạnh để giành lại thành phố, tạo nên một nghịch lý lớn về sức mạnh và giới hạn của quân đội hiện đại. Điều gì đã khiến cục diện leo thang đến mức đó, và bài học nào từ trận đánh này vẫn còn giá trị đến hôm nay?
----------------------------- Youtube Premium nâng cấp chính chủ dùng lên đến 10 thiết bị. Không quảng cáo, phát trong nền, tải về dùng offline cùng hàng loạt tính năng độc quyền đang chờ bạn khám phá. Tặng thêm 1 tháng sử dụng Youtube Premium cho khán giả CD Media khi mua gói 1 năm. Chúc mọi người có những giây phút xem video trọn vẹn không quảng cáo. Đăng ký tại: shoptkpremium.com - Zalo: 038.330.8487 -----------------------------
📋 ""CDMedia - Quân sự"" là một nền tảng chuyên sâu kết nối những kiến thức và thông tin xoay quanh lĩnh vực quân sự. Dựa trên các nguồn đáng tin cậy từ nhiều phía, kênh mang đến cho khán giả một cái nhìn đa chiều về các chiến lược quân sự, công nghệ quốc phòng từ quá khứ tới hiện đại.
Mọi sự ủng hộ cho kênh mời các bạn donate qua: - STK: 0393331668 - Ngân hàng BIDV - Nguyễn Việt Cường - Momo: 0393331668"
Chún này hơn hẳn mấy chún qua, thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam bắt thi đua đánh giạc Mỹ, tiến lên, toàn thắng hắt quỷ ta.
Mộ Thân, năm 1968.
Lần đầu tiên, mặt trận giải phóng miền Nam phát động tấn công diện rộng.
Cùng quyết tâm, một trận định càn khôn, buộc quân Mỹ chấm dứt can thiệp.
Thiếng súng dền vang khắp 100 thành phố.
Cả thế giới nín thở theo dõi.
Nhưng chỉ đến khi nhìn vào mặt trận Huế,
cùng chúng mới được chứng kiến hình ảnh chiến binh tinh nghệ và đạo đức chiến tranh
của siêu cường mạnh nhất địa cầu bị thiêu dụi hoàn toàn.
Những gì còn lại chỉ là nỗi tuyệt vọng.
Vậy, chân anh đó đã diễn ra như thế nào?
Năm cuối kết thúc, năm mới đã về.
CD Media Quân sự xin cảm ơn tất cả khán giả đã đồng hành cùng với kênh trong năm vừa qua.
Kính chúc tất cả quý vị cùng gia đình sức khỏe dồi dào,
tinh thần vững vàng, vạn sự nhị ý.
Chúng tôi sẽ luôn đồng hành cùng mọi người vượt qua mọi khó khăn, thử thách
trên con đường khám phá mọi góc nhìn của đời sống quân đội, vũ khí quốc phòng.
Chúc mừng năm mới!
Đề hiệu tại sao quân giải phóng quyết định phát động tấn công ngay trong duyệp Tết này?
Chúng ta cần nhìn vào thực lực của đối thủ.
Lực lượng Mỹ, Nghị cùng đồng minh đóng tại miền Nam
luôn được duy trì ở mức trên 1,2 triệu quân,
có biên chế pháo binh, xe tăng, thiết giáp từ các tiểu đoàn.
Đã thế, không quân và hải quân liên tục triển khai hỏa lực iểm trợ
và từng tấn công miền Bắc, nơi hậu phương của dũ kích miền Nam.
Từ ngoài nhìn vào, ai cũng dễ dàng nhận định rằng
miền Nam đang được phòng ngự bởi lực lượng mạnh,
bất khả chiến bại ở Đông Nam Á.
Nhưng ở trong trăn mới biết trăn có giận.
Kể từ khi đổ quân vào miền Nam năm 1965,
lực lượng Mỹ ở đây, đứng đầu là tướng Westmoreland,
đã tiến hành chiến tranh một cách thiếu hiệu quả.
Ông ta dùng chiến lược tìm, diệt dũ kích
thuộc mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam,
kết hợp với giải thảm, đánh bom, tàn phá bửa bãi.
Đáp lại, bộ đội dũ kích của ta sử dụng chiến thuật phân tán,
tập trung linh hoạt.
Cứ mỗi lần Hoa Kỳ tiến hành tìm diệt,
đối phương lại rút lui hoặc đánh nhỏ để tránh mũi nhọn.
Đến khi họ rút, quân dũ kích liên quay trở lại địa bàn.
Đã thế, hàng loạt cuộc hành quân hiệp đồng binh chủng
trên quy mô lớn, còn tàn phá làng mạc,
khiến nông dân không thể cày cấy.
Khi đã không còn đứng sống, họ trở nên căm thù Hoa Kỳ,
rồi gia nhập lực lượng dũ kích.
Thế là ta liên tục được bổ sung lực lượng
có tinh thần chiến đấu cao và am hiểu địa bàn.
Đã vậy, cách đưa lính tham chiến của Mỹ cũng rất có vấn đề.
Theo đó, một tân binh đến Việt Nam ban đầu sẽ rất bỡ ngỡ,
sau 12 tháng mới bắt đầu thích nghi được về chiến trường.
Nhưng đó cũng là lúc họ phải về nước và được thay thế bằng người khác.
Cứ như vậy, quân Mỹ ở Việt Nam
luôn trong tình trạng thiếu kinh nghiệm chiến tranh trầm trọng.
Trưởng Bộ Phận Khới Soviet của CIA, William Kirby,
và Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Đôn, Lý Tổng Bá của Nguyễn
cũng nhận thấy cách làm của Westmoreland là sai lầm.
Tuy nhiên, viên tướng này không để ý vì thắng hay thua không quan trọng.
Cái ông ta quan tâm là phải làm sao cho quân đội tiêu thụ bom, đạn
ở Việt Nam càng nhiều càng tốt,
nhằm phục vụ lợi ích của các nhà công dân vũ khí đứng sau mình.
Cũng vì vậy mà quân Mỹ trên thực địa rất yếu kém.
Họ không có gì ngoài họa lực mạnh và tinh thần lạc quan của đám quan chức.
Tại Hà Nội, lãnh đạo Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng nhận thấy vấn đề này.
Tổng bí thư Lê Duẩn tổng kết,
Mỹ giàu nhưng không mạnh.
Trong tương quan so sánh với Mỹ và quân đội Sài Gòn,
các lực lượng của ta, cộng cả bộ đội chính quy từ Bắc
lẫn mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam,
vẫn không tạo nên được lợi thế về quân số,
trong khi hòa lực iểm trợ thì rất thiếu thốn.
Nhưng bù lại, bộ đội ta lại được tổ chức chặt chẽ,
binh lính phần nhiều xuất thân từ nông dân
và có ý chí chống Mỹ và Sài Gòn rất cả.
Địa bàn phân bố rộng khắp,
bao gồm cả đơn vị hoạt động trong rừng núi,
nông thôn và các toán biệt động ngay lòng thành phố.
Tất cả đều hướng tới mục tiêu đánh bại sự can thiệp của Mỹ
và quân đội Sài Gòn để thống nhất quốc gia.
Dựa trên cơ sở này,
Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết tâm
chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam
sang thời kỳ tiến công và nổi dậy.
Theo đó, quân chủ lực sẽ hướng về phía đường chính Khe Xanh
nhằm đánh lạc hướng đối phương.
Còn chiến trường chính sẽ là Sài Gòn, Đà Nẵng
và ác liệt nhất là Huế.
Như mọi người đã biết, Huế là cổ đô,
có giá trị văn hóa và tinh thần rất lớn với người Việt Nam.
Trong những năm 1960,
nơi đây bùng nổ nhiều phong trào biểu tình của sinh viên,
Phật tử chống chính quyền Sài Gòn
là nhân tố đầu tiên dẫn đến sự sụp đổ của Ngô Đình Diệp.
Sau khi chế độ độc tài gia đình trị của họ Ngô sụp đổ,
người Huế vẫn tiếp tục đấu tranh,
đòi quyền tự do báo chí, hội hợp,
không đàn áp tôn giáo và ngừng đánh bom miền Bắc
bất chấp thái độ trì hoãn của bẻ lũ Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ.
Trước sức ép từ nhân dân,
hàng loạt tướng tá Sài Gòn được cử ra để giải quyết tình hình,
như Tôn Thất Đính, Phan Xuân Nhận,
đã đứng về phía chống đối chính quyền quân sự của hai tướng thiệu kỳ.
Phải đến khi tướng Nguyễn Cao Kỳ đem thủy quân lục chiến ra chèn áp,
phong trào đấu tranh đòi quyền dân chủ mới lăng xuống.
Tuy nhiên, những nỗ lực của người dân Huế không phải là vô ích.
Phong trào đấu tranh của họ đã làm chính quyền Sài Gòn rối loạn.
Tận dụng cơ hội đó,
hàng loạt cơ sở cách mạng bí mật mọc lên tại vùng ven Huế.
Các cán bộ ta tổ chức nhiều mũi đặc công, biệt động, trinh sát vũ trang,
vừa phá địch, vừa vận động người dân xây dựng cơ sở sát thành phố,
tạo bàn đạp tiến công cho cách mạng.
Trước tình hình đang rất thuần lợi,
từ đầu năm 1968,
miền Bắc đưa vào chiến trường miền Nam 141.000 cán bộ, chiến sĩ,
hỗ trợ mặt trận dân tộc giải phóng ngày càng hùng mạnh,
sẵn sàng cho cuộc tổng tấn công diện rộng.
Trong đó, Huế là chiến trường được quân giải phóng quan tâm hàng đầu.
Tư lệnh mặt trận mậu thân tại đây là Lê Minh,
phó bí thư khu ủy Trị Thiên,
kiêm bí thư thành ủy Huế.
Ông là cán bộ dâu kinh nghiệm phát động chiến tranh nổi dạy.
Kế đến là Đặng Kinh,
tư lệnh quân khu Trị Thiên, Huế,
một chỉ huy quân sự tài năng,
mới được cử từ Bắc và Nam hoạt động.
Tại đây họ tập trung tới 10.000 chiến sĩ tình nguyện,
được trang bị đài liên 12,7 ly,
súng không giật DKZ, hối 82 ly.
Để đảm bảo tính bí mật,
lực lượng tập rượt đánh các mục tiêu ở Huế
đều không chọn người địa phương,
chỉ lấy người ở quê xa tới
để họ không biết mục tiêu gì ở đâu.
Mọi người đều phải tập luyện kỹ lưỡng.
Trước giờ khai chiến,
các xe lam, gánh trái cây và thuyền 2 đáy
đưa súng và chất nổ C4 vào bên trong thành phố.
Trong hầu hết những lần giao chiến trước đây,
một đơn vị cấp Sudan Việt Nam Cộng Hòa
thường rất dễ lâm vào rối loạn và tàn giá
khi bị ta tấn công theo kiểu treo ngưỡng ngoài hợp.
Tuy nhiên, trận này không đơn giản như vậy.
Các thông tin tình báo trước đây cho thấy
lực lượng vùng 1 chiến thuật của Nguyễn Sài Gòn
đóng gần Huế đều là các đơn vị vô kỳ luật.
Nhưng sau biên cố miền Trung,
chúng bất ngờ được tổ chức chính quy,
bài bản và có kỳ luật hơn hẳn.
Điều đó khiến không ít người phải đặt câu hỏi
Tại sao?
Trước khi trả lời cho câu hỏi này,
CDMedia xin dành vài giây để giới thiệu
chương trình ưu đãi của một đối tác đồng hành quen thuộc.
YouTube Premium nâng cấp chính chủ
dùng lên đến 10 thiết bị.
Không quảng cáo, phát trong nền, tải về dùng offline
cùng hàng loạt tính năng độc quyền đang chờ bạn khám phá.
Nâng cấp nhanh nhất qua gia lô 038-330-8487.
YouTube Premium nâng tầm trải nghiệm của bạn.
Đơn vị Sài Gòn đóng quân tại đây là Sư đoàn 1 Bộ Binh
thuộc loài tinh nguyện nhất của Việt Nam Cộng Hòa
nằm dưới quyền chỉ huy của Ngô Quang Trưởng,
một viên tướng khét tiếng trị lính Hạ Khắc.
Cách Huế 11 km về phía nam
là căn cứ phú bài của thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.
Con sông Lược cùng bố trí 2 lứa đoàn lục quân
và một vài đơn vị thuộc Sư đoàn Dù,
Sư đoàn Kỵ Binh bay liên tục cơ động xung quanh Quảng Trị và Huế.
Tổng quân số cả Mỹ, Nghị lên đến 15.000 người.
Có thể thấy đây là một kéo đấu cần sức.
Nếu lợi thế của ta là khả năng tổ chức chặt chẽ
cùng yếu tố bất ngờ,
thì phía Mỹ, Nghị lại có quân số cùng hỏa lực vượt trội.
Do quân giải phóng hoạt động quá bí mật
lại được dân chúng che chở,
nên tình báo Hoa Kỳ không nắm được nhiều thông tin có giá trị.
Từ chiều 30 đến hết ngày mùa 1,
tiếng pháo nổ liên hồi,
dân chúng lũ lật đi lễ,
chúc Tết rất vui vẻ, không có chuyện gì xảy ra.
Sáng mùa 1 Tết,
Tướng Sài Gòn Ngô Quang Trưởng
cùng toàn thể nhân viên thuộc Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh
đến dự lễ trao cơ đầu năm ở Phú Văn Lâu,
một di tích lịch sử cổ đô.
Cả quân lẫn tướng đều chủ quan,
không hề đề phòng.
Phải đến khi có tin cấp báo
rằng hai vùng Quy Nhơn, Nha Trang
đã bị lực lượng Cộng sản bất ngờ tấn công.
Ngô Quang Trưởng mới giật mình,
lập tức ra lệnh cấm trại.
Đích thân ông ta tới đồn mang cá,
ra lệnh cho đài đội trinh sát hắc báo
tuần tra xung quanh chủ sở tỉnh,
nhà máy điện, nhà tù
và sân bay Tây Lộc.
Đến 10 giờ đêm,
đội lính này phát hiện một tổ công binh
và đặc công đang thâm nhập.
Hai bên đã có một trận đấu súng nhỏ.
Một vài chạm gác thuộc
sư đoàn một bộ binh phóng hỏa châu
chiếu dọi vào vị trí lẩn khuất
của đối phương giữa mạng đêm.
Nhưng khi quân tiếp viện đến,
thì thấy lực lượng ta bỗng biến mất.
Đó là bởi chính quân chúng ở đây đã giúp đỡ
và trực tiếp dẫn đường cho hai tiểu đoàn quân giải phóng
đột nhập vào,
khiến quân Việt Nam Cộng Hòa
không thể nắm được tình hình.
Đây sẽ là thiếu sót nghiêm trọng
làm chúng bị đánh
từ hàng chục hướng chỉ sau vài giờ nữa.
Tướng Ngô Quang Trưởng
phân tán hầu hết đơn vị
đang sẵn sàng trực chiến,
đi tuần tra khắp nơi,
nhưng lại quên mất vị trí của bản thân
tại đồn Mãng Cá,
có hàng rào phòng thủ rất mỏng.
Phần lớn binh sĩ của ông ta
vẫn trẻ trẻ no say,
không tin con chiến sự
bất chấp thái độ sốt sẵn của chỉ huy.
Cùng lúc đó,
bộ đội ta đã triển khai 2 cánh quân chính.
Hướng Bắc phụ trách phân thành phố
ở tả ngạn Sông Hương
và huyện Hương Trà,
tập trung phần lớn Cối, Súng Không Giật
và Đại Liên 12,7.
Hướng Nam nhằm vào phân thành phố
ở hữu ngạn Sông Hương
và 2 huyện Hương Thủy, Phú Vang.
Hai cánh này sau khi tiếp cận thành phố
không đánh chiếm từng mục tiêu đơn lẻ,
mà tỏa ra,
phối hợp với các nhóm du kích
và quân chúng tấn công đồng loạt
nhằm tạo ra hỗn loạn cho kẻ thù.
Đúng 2h33 phút sáng,
ngày 31 tháng 1,
quân giải phóng khai hỏa
một dàn đạn Hòa Châu
làm sáng giựt một góc trời.
Đó cũng là hiệu lệnh tấn công.
Bên trong thành phố,
lính đặc công cấp tốc đánh vào đường cảnh sát Đông Ba,
Miếu Đại Càn, Cầu An Cựu.
Lực lượng du kích lâu nay
ẩn nó tại nhà dân cũng lộ diện,
quấy rối, tạo thế nghi binh
đánh lạc hướng quân đồn chú của Việt Nam Cộng Hòa.
Cùng lúc đó,
bộ đội giải phóng từ bên ngoài đánh vào.
Pháo binh đồng loạt bắn phá
các mục tiêu địch ở khu Tâm Giác,
khu Phan Sao Nam, Phú Bải,
Động Toàn, Đông Ba.
Họ sử dụng đàn pháo phản lực 122 ly,
được tháo thành các ống phóng rời,
phân tán ở nhiều vị trí khác nhau.
Rồi bắn cấp tập
vào một nhóm mục tiêu,
tạo nên thế trận khỏa khí phân tán,
khỏa lực tập trung.
Tiếp theo,
dù kích và đập công áp sát lấy tọa độ
và nã liên tiếp đạn cối 82 ly
vào đồn Mang Cá,
căn cứ chỉ huy của Ngô Quang Trường.
Sau đợt triển khai Hòa Lông Mờ Màn,
quân giải phóng từ hai hướng
đánh đồng loạt vào 40 mục tiêu
cả nội thành lên ngoại thành Huế.
Đúng 4 giờ sáng,
họ tiên đánh sân bay Tây Lộc.
Đơn vị trinh sát khắc báo
ở đây chỉ có 50 người, đã bắn trả.
Hai bên răng co hết sức gai cấn.
Lúc thủy quân giải phóng tiến lên,
khi thủy quân Sài Gòn tỏ ra lấn lướt.
Trong khi sân bay Tây Lộc bị tấn công,
một tiểu đoàn quân giải phóng khác
tấn công đồn Mang Cá,
nơi làm việc của Ngô Quang Trường.
Đặc công ta bám rễ cây
để leo vào,
đánh thọc sườn ngay giữa khu phức
và phòng thủ của kẻ thù.
Tiếp theo, một đơn vị quân giải phóng khác
từ bệnh viện Nguyễn Tri Phương gần đó
tiến đến Tri Viện,
dung bốc phá và dung chống tăng B40,
B41 bắn chế áp
khiến kẻ thù hỗn loạn.
Ngô Quang Trường bên trong
kêu gào binh sĩ không di chuyển lung tung,
chỉ được đứng tại chỗ bán trả,
rồi gai điện cho đại đội Hắc Báo
đóng bận đánh nhau ở sân bay
về ứng cứu.
Cả viên thư ký lên đám sĩ quan văn phòng
cũng bị ép cầm súng ra cửa sổ,
xả đạn vào bất kỳ
mục tiêu nào khả nghi.
Đàn súng trường rung ngắn từ các căn phòng
bắn ra hỗn loạn,
hai bên ranh giật nhau
từng bức tượng.
Đến giang sáng, quân Giải phóng bị đánh bật
khỏi đồn mang cá.
Nhận thấy đối phương đã dùng phần lớn B40,
B41 trong cuộc tấn công vừa rồi.
Ngô Quang Trường liên ra
lệnh cho 6 xe thiết giáp M113
đóng gần đó, dẫn bộ binh
đi truy quét.
Tại hướng tây thành phố,
do tiểu đoàn chủ lực đến muộn,
phía Việt Nam Cộng Hòa đã kịp thời ổn định lại trận tuyến,
đánh ngang cơ với quân Giải phóng.
Họ cũng bố trí mai phục
tại các cây cầu quan trọng
ngăn đặc công ta vòng qua đánh úp.
Một nhóm quân Giải phóng khác
tấn công trại Cao Thắng, nơi sưu đoàn
một bộ binh, tích chữ 1.400
súng M16 và một kho
đạn dược chất nổ lớn.
Tuy nhiên, 80 tay súng đồn
trú tại đây đã không đò hàng,
mà bắn trạo dữ dội.
Tại căn cứ Phú Bài, cách trung tâm
Huế 15 km,
quân Mỹ cũng đánh trả.
Tuy nhiên,
ở 40 mục tiêu khác nhau,
quân Sài Gòn chống trả trong trạng thái hoang mang tột độ
và bị đánh lùi.
2.000 người bị giam trong nhà Lào
được giải thoát.
Một nửa trong số này đã tiếp nhận vũ khí và tham gia
chiến đấu. Đúng 9 giờ sáng,
lá cơ cầu mặt trận dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay
trên kỳ đại Huế.
Sau một đêm giao tranh,
90% thành phố đã nằm trong tay cách mạng.
Quay trở lại đồn mang cá,
ngôi quang trưởng vừa thoát khỏi
nguy hiểm, đã rất tức giận.
Ông ta điên cuồng gọi địa khắp nơi
ra lệnh cho tiểu đoàn dù
và xe bọc thép gần đó
nhanh chóng về chiếm lại Huế
mà không cần đợi máy bay hiểm trợ.
Quyết định trong lúc nóng vội này
đã khiến đội lính dù vội vã
vào nội thành trong tình trạng thiếu chuẩn bị.
Quân giải phóng từ căn sải nhà
bắn ra xối xả, vô hiệu hóa
toàn bộ đơn vị.
Đến trưa, quân chủ lực bố trí
B-40 tại các góc phố
bắn tràn đoàn xe thiết giáp Việt Nam Cộng Hòa.
Viện thiết đoàn trưởng
tử vong tại chỗ.
Một đơn vị lính dù khác đến tri viện
đấu súng với quân giải phóng trên đường phố.
Đánh nhau được một lúc
thì cả hai bên chạy vào nơi trú ẩn
rồi nã súng từ nhà này
qua nhà khác.
Ngôi quang trưởng sợ có mai phục
nên cũng phản công rất hạn chế
rồi tập trung phòng ngự các công trình kiên cố
đợi tiếp viện.
Trong khi những diễn biến
trong thành phố Huế đáng hết sức phức tạp
thì ở các huyện xung quanh
quân Mỹ phản ứng rất bị động.
Thời tiết trở nên xấu bất thường
khiến chiến thuật cơ động
bằng trực thăng gặp trở ngại
và liên tục bị đánh phá.
Phải đến khi không quân Oanh tạp thẳng
vào trận địa bao vây của quân giải phóng
họ mới có thể di chuyển về phía thành phố.
Trong ba ngày mùng 1, mùng 2, mùng 3 tháng 2
năm 1968
một số đơn vị thuộc sư đoàn 1
thủy quân lục chiến Hoa Kỳ
hành quân tiến đến nội đô Huế.
Họ đánh chiếm các cơ sở liên lạc
đồng thời tạo bàn đạp
đánh vào cố đồ.
Ngốc quang trưởng
một mặt triệu tập thêm lực lượng
đang đóng giải giác
về một vài điểm đóng quân.
Một mặt, ông tạp phát động các cuộc tấn công nhỏ
vào sân bay và một số cửa vào thành phố
mở đường cho quân tiếp viện.
Đến ngày mùng 7 tháng 2
các đơn vị Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa
đã vào vị trí
chuẩn bị cho cuộc phản công.
Chân ánh bắt đầu bước vào giai đoạn cam gò nhất.
Ban đầu quân Mỹ
ban lệnh hạn chế dùng hỏa lực hạng nặng
để bảo vệ di tích lịch sử
trong nội thành Huế.
Họ được trang bị vài xe thiết giáp
M113, xe tăng M48
và loại pháo tự hành người lùn
gọi là M50 Ontos
mang 6 nọc súng không giật
106 ly
được thiết kế chuyên dụng
cho chiến tranh đấu thị.
Quân Việt Nam Cộng Hòa từ tả ngạn sông
định tiến vào hỗ trợ
nhưng bị đặc công quân giải phóng giật mìn
làm sọc cầu.
Ngay lập tức, từ những chướng hại vật
xung quanh bờ sông, lực lượng du kích
bắn cấp tập khiến đối phương
không thể tiến lên.
Thế là quân Mỹ tại hướng Đông Nam thành phố
phải tự mình đương đầu với hàng loạt điểm hỏa lực
được triển khai đan sen giữa các bức tường
xa sát nhau.
Khi thấy không thể dùng
xe tăng hiệu quả, lính thủy quân lục
chiến dùng súng không giật bắn thẳng
vào ô cửa sổ nghi có kẻ thù.
Một số binh lính dùng
lưu đạn hơi cay ném vào các ngôi nhà lớn
sau đó họ sẽ đeo mặt nạo
phòng độc, lao vào và đấu súng
với quân giải phóng.
Một số đơn vị Việt Nam Cộng Hòa cũng lọt được
vào trong nội thành do tranh ác liệt
với du kích và đặc công.
Ngô Quang Trường còn yêu cầu tiểu khu
Thừa Thiên bổ sung thêm địa phương quân
lực lượng yếu nhất của Sài Gòn
để bù đắp khoảng trùng chiến thuật.
Ông ta cũng ráo riết tìm diệt
những cán bộ chiến sĩ còn bám
trong dân. Hai bên đánh nhau
dóp lá cả khiến xe tăng
M48 Mỹ dù thấy mục tiêu
trước mặt cũng không dám khai hỏa bửa bãi.
Ngày 9 tháng 2
năm 1968
quân giải phóng từ nội thành Huế
rút về gần đàn Nam Giao,
phía nam thành phố.
Hôm sau quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa bổ sung
có mũi tri viện theo 3 hướng.
Hướng thứ nhất là một đơn vị thủy quân lục chiến
được trực thăng cử đến bên hữu ngạn
sông Hương, xung quanh Đông Ba
Gia Hội. Sau khi đánh
tan các nhóm du kích xung quanh bằng
hỏa lực áp đảo. Một cánh thủy quân
lục chiến Hoa Kỳ khác từ Phú Bài
được di chuyển bằng xe tải đến Huế
tạo thành hướng thứ hai.
Còn về phần sứ đoàn 1 bộ binh của Ngô Quang Trường
thấy biện pháp vượt sông quá nguy hiểm
Ông ta ra lệnh điều thuyên máy
từ nơi khác đến, chở lính từ
bộ tư lệnh đến thẳng hữu ngạn sông Hương
tạo thành hướng thứ ba.
Lúc này quân giải phóng vẫn kiểm soát
hoàn toàn Gia Hội, Thành Nội và đường Phan Bội Châu.
Ngày 12 tháng 2
sứ đoàn 1 bộ binh được tăng cường
thêm 2 đơn vị thủy quân lục chiến nhỏ
vượt sông Hương sang Tả Ngạ
đánh vào Thành Nội.
Khi lực lượng đã tập trung đông đủ
quân nghị tràn đến giải vây cho các điểm
đang bị bao vây, kể cả trại Cao Thắng.
Hôm sau
bộ thủy quân lục chiến Hoa Kỳ cũng đánh vào
biến bảo Vinh thuộc Tả Ngạ sông Hương.
Quân xâm lược sử dụng lại
đầu đạn chứa đinh và lóc vào
nòng súng không giật 106 ly
và bán cấp tập, tạo nên
thế tiền pháo hậu sung cho binh lính
tiến vào từng ngôi nhà.
Trước tình thế nguy cấp, tư lệnh Đặng Kinh
ra lệnh cho quân giải phóng điều chỉnh
lệ đội hình, tăng cường phong thủ hàng loạt
nơi hiểm yếu dọc các bức tường hướng Tây Bắc
và Đông Nam.
Ở nhiều căn nhà,
nhân dân đem bàn ghế mang ra chất nguồn ngang
để ngăn bức tiến quân của Mỹ
và Việt Nam Cộng Hòa.
Họ cũng tổ chức phản công vào vị trí
của thủy quân lục chiến Sài Gòn.
Một đoàn xe chở quân tiếp tế cho
trí trường Huế của quân Việt Nam Cộng Hòa
bị phục kích, chịu thiệt hại nặng.
Hai bên đánh nhau dữ dội
khiến thế trận trở nên ràng co.
Quân Mỹ sau vài ngày cận chiến
dân tỏ ra bất lời trước đối phương
dù không bị lệch về quân số.
Thế là lệnh hạn chế
dùng hỏa lực hạng nặng bị hủy bỏ.
Lệnh Mỹ gọi máy bay đến giải bom.
Ban đầu, không quân Hoa Kỳ
không thể hoạt động tích cực do thời tiết xấu.
Phải đến ngày 16 tháng 2,
phi đổi máy bay F-8 Crusader
mới đến Oanh Tạc và các chiến sĩ giải phóng.
Đáp lại,
quân ta dồn toàn bộ hỏa lực B-40,
B-41, sùng cối 82 ly
từ hầm hào, địa đạo,
trong các khu nhà.
Ná thẳng vào các mũi tấn công tiên phong
của thủy quân lục chiến Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa.
Ngày 21 tháng 2,
quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa
đã chiếm toàn bộ tuyến Bôn Trì,
Bôn Phổ, An Lưu,
Lạ Chữ, Quế Chữ, Cổ Bưu.
Những cánh quân khác
thì dồn ép, đầy quân giải phóng
có cụm về hướng Tây.
Cùng lúc với những diễn biến bên trong thành phố,
quân chiến dành quyền kiểm soát
các cây cầu xung quanh sông Hương
cũng ác liệt không kém.
Dù nhiều lần đầy lùi
thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng Hòa,
nhưng lực lượng du kích và đặc công của ta
cũng thấm mệt.
Trước tình hình đó, để bảo toàn lực lượng tránh
bị bao vây,
ngày 22 tháng 2 năm 1968,
Khu Ủy Trị Thiên
và Chỉ huy mặt trận Huế
quyết định đưa toàn bộ ra ngoài thành phố.
Sau khi đối phương đã du lùi gần hết,
Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa
mới đánh chiếm các điểm còn lại.
Ngày 24 tháng 2 năm 1968,
cuộc chiến tại Huế
về cơ bản đã kết thúc.
Quân Mỹ Nguy truy lùng mọi chiến sĩ của ta
vẫn còn trong dân và pháo hủy hầm
hào nuôi dầu cán bộ,
chiến sĩ giải phóng trong thành phố.
Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ
chịu tới 4.400 thương vong,
còn quân giải phóng hy sinh
khoảng 5.400 người.
Qua những gì được thể hiện trong cuộc chiến,
có thể thấy rằng,
thủy quân lục chiến, lực lượng tinh nguyện nhất
Hoa Kỳ đã phải dùng đến không quân,
đánh bao màu ạt
mới đủ sức đẩy lùi đối phương,
được trang bị nghèo nàn, huấn luyện ít hơn mình rất nhiều.
Còn quân giải phóng,
phải trả giá với nhiều binh sĩ tinh nguyện vòng mạng
và hàng loạt di tích lịch sử
của đất nước bị pháo hủy.
Sau tất cả,
bọn họ không còn gì khác
ngoài phải chờ đợi ngay sụp đổ
sẽ đến trong tương lai không xa.
Cùng với đó,
là một chiến thắng cuối cùng
cho những người kháng chiến.