3 TÔN GIÁO 1 ĐỨC CHÚA TRỜI Tại Sao Họ Không Thể Chung Đường

Articles by VÔ HẬN LỆ
168 Người theo dõi
25 Lượt xem video·10 thg 4, 2026
Hãy tưởng tượng một cái cây vĩ đại có chung một bộ rễ cổ xưa, sâu thẳm, hút cùng một nguồn nước từ lòng đất mẻ.
Nhưng khi vươn lên khỏi mặt đất, thân cây ấy lại tách ra thành ba nhánh lớn, mỗi nhánh hướng về một phía bầu trời.
Và đôi khi, trong những cơn rông bão của lịch sử, những cảnh lá của chúng va chạm nhau tạo nên những ngọn lửa rực cháy kéo dài hàng thiên niên kỷ.
Ba đức tin lớn nhất hành tinh, Do Thái Giáo, Ky Tô Giáo và Hồi Giáo, tất cả đều hướng về một thiên chúa duy nhất,
cùng tôn cánh một tổ phụ Abraham và cùng chia sẻ một dòng máu của những lời tiên trì.
Nhưng tại sao họ không thể chung một con đường?
Tại sao Giê-ru-sa-lem, thành thánh mà cả ba đều khao khát lại trở thành điểm giao thoa của những nỗi đau, những cuộc thập tự chinh và những xung đột chưa có hồi kết?
Sự khác biệt không nằm ở đấng mà họ thờ phụng, mà nằm ở cách thức họ tiếp nhận lời giao ước.
Hôm nay, chúng ta sẽ lột bỏ những lớp màn thần học phức tạp, quay ngược bánh xe thời gian về 4.000 năm trước để đi tìm câu trả lời.
Tại sao cùng một gốc rễ, nhưng lại nảy sinh những lối đi biệt lập đến thế?
Nếu bạn muốn thấu hiểu dòng chảy của những đức tin đã định hình thế giới,
hãy nhấn đăng ký ngay để cùng chúng tôi giải mã những nút thắt thánh thiêng ngay sau đây.
Câu chuyện của chúng ta không bắt đầu ở một đền đài nguy Nga, mà bắt đầu giữa những bãi cát vàng của vùng lưỡng Hà cổ đại.
Hơn 4.000 năm trước, có một người đàn ông tên là Abraham.
Giữa một thế giới chìm đắm trong việc thờ cúng hàng ngàn vị thần đá, thần gỗ,
Abraham đã nghe thấy một tiếng gọi từ hư không, một tiếng gọi thay đổi vĩnh viễn định mệnh nhân loại.
Thiên Chúa đã phán với Ngài,
Hãy rời bỏ quê hương, họ hàng và nhà cha Ngươi mà đi tới đất ta sẽ chỉ cho Ngươi.
Ta sẽ làm cho Ngươi thành một dân tộc lớn.
Đó chính là giao ước đầu tiên.
Abraham trở thành cha của những người tin.
Ngài nhận được lời hứa vĩ đại, dòng dõi của Ngài sẽ đông như sao trên trời,
như cát dưới biển, và sẽ làm chủ miền đất hứa Canaan.
Thế nhưng, bì kịch của sự chia rẽ lại nảy sinh ngay từ chính lòng tin và sự nôn nóng của con người.
Nhiều năm trôi qua, bà Sarah, vợ của Abraham vẫn hiếm muộn.
Trong nỗi tuyệt vọng, bà đã đưa người nữ tì Ai Cập tên là Haga cho chồng mình,
với hy vọng có một đứa con nối dõi, và Igmaen ra đời.
Khi đó, Abraham đã 86 tuổi.
Ngài yêu thương Igmaen bằng tất cả trái tim của một người cha già.
Nhưng Thiên Chúa lại có một kế hoạch khác.
Ngài phán rằng lời hứa sẽ được thực hiện qua một người con do chính bà Sarah sinh ra.
Và ở tuổi 90, điều không tưởng đã xảy ra.
Bà Sarah thụ thai và sinh hạ Isaac.
Khoảnh khắc Isaac trào đời cũng là lúc mâm mống của sự chia rẽ bùng phát.
Sự ghen tị giữa hai người đàn bà, giữa hai đứa trẻ đã dẫn đến một quyết định nghiệt ngã.
Abraham buộc phải để Haga và Igmaen ra đi vào sa mạc mênh mông.
Hãy tưởng tượng nỗi đau của người cha già khi nhìn đứa con đầu lòng khuất dần sau những đồi cát.
Nhưng Kinh Thánh và Kinh Curan đều chép rằng Thiên Chúa đã không bỏ rơi họ,
Ngài đã cứu sống họ và hứa rằng Igmaen cũng sẽ trở thành tổ phụ của một dân tộc vĩ đại.
Và từ đây, hai ngã rẽ tâm linh lớn nhất lịch sử bắt đầu thành hình.
Với người do thái và người ky tô hữu,
dòng dõi giao ước đi qua Isaac chuyển đến Jacob,
người sau này được đổi tên thành Israel, tổ phụ của 12 tri tộc.
Họ tin rằng mình nắm giữ giao ước cũ và luật pháp, Torah,
do ông Moses nhận từ đỉnh núi Sinai giựt lửa.
Đối với họ, Thiên Chúa là đấng duy nhất, trí thánh và cực kỳ nghiêm khắc.
Người do thái đã trải qua hàng ngàn năm lưu đài, thảm sát,
nhưng họ vẫn kiên trì bám lấy lời hứa.
Một ngày nào đó, đấng Mesia, đấng cứu thế, quyền năng sẽ xuất hiện
để khôi phục vương quốc vàng son của nhà David.
Trong khi đó, ở những ốc đảo sai xôi của vùng Ả Rập,
những bộ lạc du mục, hậu dệ của Iqma'en lại giữ một ký ức khác.
Họ tin rằng chính Iqma'en mới là người con được chọn để hiến tế,
và chính ông đã cùng cha mình là Abraham
xây dựng nền thánh đài Kaba tại Mecca.
Họ tin rằng thông điệp ban đầu của Thiên Chúa
đã bị con người làm sai lệch qua thời gian.
Sự chia rẽ càng trở nên sâu sắc khi 2.000 năm trước,
tại Nazareth, một người tên là Dê-xu xuất hiện.
Sự kiện Chúa Dê-xu chính là nhát giao,
phân tách do Thái giáo và Ki-tô giáo.
Những người đi theo Ngài tuyên bố một tin mừng chấn động.
Chúa Dê-xu chính là đấng Mesia mà các ngôn sứ đã loan báo.
Thậm chí, Ngài chính là con Thiên Chúa nhập thể.
Ngài không đến để thiết lập một vương quốc trần gian,
mà để thiết lập một giao ước mới bằng chính máu của mình trên thập tự giá.
Người do Thái đã phản đối quyết liệt.
Họ cho rằng việc tôn thờ một con người là Thiên Chúa
là sự phạm thượng tột cùng vào tính duy nhất của Ngài.
Từ đó, Ki-tô giáo tách ra,
mang thông điệp của Chúa Dê-xu đi khắp đế chế La Mã và toàn thế giới.
Nhưng bi kịch của sự phân giã chưa dừng lại.
600 năm sau, khi Ki-tô giáo đã phủ bóng khắp châu Âu,
thì tại một hang đá vắng lặng ở Mecca,
một tiếng nói lại vang lên.
Một tin điệp cuối cùng được ban xuống cho nhà tiên tri Muhammad,
khẳng định rằng cả người do Thái và người Ki-tô hiểu
Tại sao cùng một gốc dễ Abraham
mà mỗi nhánh lại nhìn nhận về Chúa Dê-xu,
về luật pháp và về đấng tối cao khác biệt đến vậy?
Điều gì đã khiến họ không thể ngồi chung một bàn tiệc của đức tin?
Câu trả lời nằm ở những mâu thuẫn nảy sinh từ sa mạc Ả-rập vào thế kỷ thứ 7.
Hãy đặt mình vào bối cảnh vùng đất Israel cách đây 2000 năm.
Một dân tộc đang quản quải dưới gót giày viễn trinh của đế chế La Mã.
Người do Thái lúc bấy giờ bám chặt vào từng chữ trong bản luật pháp Tô-ra.
Họ mòn mỏi ngóng đợi một đấng Mesia theo đúng nghĩa đen.
Một vị vua chiến binh.
Một hậu duệ oai hùng của David.
Người sẽ cầm gươm đập tan siềng xích noại bang
và khôi phục vinh quang cho Jerusalem.
Nhưng xuất hiện giữa đám đông nghèo khổ
không phải là một vị tướng oai phong
mà là một người thợ mộc giản dị đến từ Nazareth, chúa Giê-xu.
Ngài không kêu gọi binh đao.
Ngài nói về sự tha thứ.
Ngài không hứa hẹn về một vương quốc trần gian rực rỡ.
Ngài nói về vương quốc thiên đàng trong tâm hồn.
Đình điểm của cơn địa chấn thần học
là khi chúa Giê-xu tuyên bố một điều
mà tai người Do Thái thời đó không thể chấp nhận được.
Ngài và Thiên Chúa là một.
Với các tư tế và luật sư Do Thái giáo
đây là sự phạm thượng tột cùng.
Họ thờ phụ một Thiên Chúa duy nhất
vô hình và thánh khiết đến mức không ai được phép gọi Ngài.
Vậy mà người thanh niên này lại tự xưng là con Thiên Chúa.
Cái chết của chúa Giê-xu trên đồi Golgotha
lẽ ra đã dập tắt mọi hy vọng của những kẻ đi theo Ngài.
Nhưng chính sự phục sinh đã biến những người đánh cá nhút nhát
thành những sứ giả làm dúng động cả đế chế.
Họ tuyên bố một giao ước mới.
Luật pháp của Mô-xê đã hoàn thành
và giờ đây cánh cửa cứu rỗi mở ra cho mọi sắc tộc
không chỉ riêng người Do Thái.
Kỳ Tô giáo chính thức tách rời
mang theo hình ảnh thập tự giá phủ bóng khắp thế giới cổ đại.
Nhưng khi thế giới tưởng chừng đã định hình song hai cực đức tin
thì một tiếng gọi khác lại vang lên từ nơi khắc nghiệt nhất của hành tinh
Sa Mạc Ả Rập.
Vào thế kỷ thứ bảy,
khi Kỳ Tô giáo đã trở thành quốc giáo của La Mã
thì tại một hang đá vắng lặng ở Mekka
một người đàn ông tên là Mu-ha-mát
đã nhận được mặt khải từ thiên sứ Gia-bri-en.
Sứ điệp này mang đến một cú sốc trực diện
cho cả người Do Thái lẫn Kỳ Tô hữu.
Hồi giáo xuất hiện với lời tuyên bố đanh thép
Cả hai tôn giáo trước đó
đều đã làm sai lệch bản chất của Thiên Chúa
mà họ gọi là A-la.
Người Hồi giáo tồn kính Chúa Giê-xu
họ gọi là I-sa
như một ngôn sứ vĩ đại
tin vào sự trình khiết của bà Maria
nhưng họ tuyệt đối phủ nhận thần tính của Ngài.
Với người Hồi giáo
việc nói Thiên Chúa có con
là một sự sỉ nhục vào tính duy nhất của Ngài.
Họ tin rằng Chúa Giê-xu
chỉ là người dọn đường cho vị ngôn sứ cuối cùng
và hoàn hảo nhất, Mù-ha-mát.
Hãy nhìn vào hố ngăn cách không thể lấp đầy này.
Người Do Thái vẫn đang đợi Đấng Mê-si-a của riêng họ.
Người Kỳ Tô hữu tin Đấng Mê-si-a
đã đến, đã chết và đã phục sinh
để cứu chuộc nhân loại.
Người Hồi giáo tin Đấng Mê-si-a
chỉ là một con người, một ngôn sứ
và sự thật cuối cùng nằm ở Kinh Cụ-ran.
Ba con đường, ba cách nhìn về một nhân vật duy nhất
nhưng sự khác biệt không chỉ dừng lại ở Kinh Điền.
Nó biến thành một cuộc đối đầu địa chính trị tàn khốc
khi những chiến binh Hồi giáo tràn ra từ sa mạc
đánh bại những đế chế hùng mạnh
và chiếm lấy Giê-ru-sa-lem.
Tại sao Thiên Chúa lại để Giê-ru-sa-lem
trở thành một bàn cờ đẫm máu?
Ngay trên nền ngôi đền thờ cũ của người Do-thái
nơi Mô-xê và các tư tế từng dân lễ tế
người Hồi giáo đã dựng lên mái vòm đá lộng lẫy.
Đối với người Do-thái
đó là một sự chiếm đóng linh thiêng.
Đối với người Hồi giáo
đó là dấu ấn của sự thật cuối cùng.
Còn đối với các Ky-tô hữu phương đầy
đó là một nỗi đau
Hàng trăm năm sau
những đoàn quân mang trên mình biểu tượng thập tự giá
bắt đầu tiến về phương Đông.
Cuộc đụng độ giữa thập tự giá và trang lưỡi liềm
không chỉ là cuộc chiến giành đất đai
mà là cuộc chiến để chứng minh
ai mới là kẻ nắm giữ chìa khóa thật sự của thiên đàng.
Tại sao cùng một gốc dễ Abraham
cùng tôn thờ đấng tối cao
nhưng họ lại sẵn sàng nhân danh ngài
để tiêu diệt lẫn nhau.
Cầu trả lời không nằm ở thiên ý
mà nằm ở sự diễn giải của con người
về quyền lực và trần lý.
Và khi những tiếng gươm đau
của các cuộc thập tự trinh bắt đầu vang lên
sự bao dung ban đầu của Abraham
đã bị vùi lấp dưới lớp bụi dày
của định kiến và thù hận.
Khi Jerusalem
rơi vào tay người Hồi giáo
vào thế kỷ thứ bảy
một trật tự mới đã được thiết lập.
Trong nhiều thế kỷ
các tín hiểu kỹ tô giáo
và do thái giáo
vẫn được phép sinh sống và hành hương
dù phải nộp thuế thân.
Nhưng đến thế kỷ 11
sự trỗi dậy
của người thổ Seu Duc
đã thay đổi tất cả.
Những báo cáo về việc
người hành hương bị ngược đãi
và các thánh tích bị xúc phạm
đã thổi bùng một ngọn lửa phẫn lộ
từ Vatican lan khắp châu Âu.
Năm 1095
Giáo hoàng Ubano II
đưa ra một lời kêu gọi
chấn động lịch sử
Thiền Chúa Muốn Thế
Lời kêu gọi ấy
đã biến những hiệp sĩ,
nông dân và cả những đứa trẻ
thành những chiến binh thập tự.
Họ may biểu tượng
thập tự giá lên áo
cầm gươm và tiến về phương đông
với một niềm tin sắt đá
Giết chết kẻ ngoại đạo
là một hành động công chính
để rửa sạch tội lỗi.
Đây chính là nghịch lý
lớn nhất. Những con người
cùng thờ phụ đức tin của Abraham
cùng đọc về 10 điều
rằng người không được giết người
giờ đây lại nhân danh
chính Thiên Chúa
để đổ sát lẫn nhau.
Cuộc thập tự trinh thứ nhất
kết thúc trong một bẻ máu
khi quần thập tự
tràn vào Jerusalem
năm 1099
Sử sách ghi lại
rằng máu ngập đến mắt cá chân
chiến mã.
Họ không phân biệt ai là người
Hồi giáo, ai là người
Do Thái. Mọi kẻ
không cùng đức tin đều bị
hành quyết ngay tại những nơi
thiêng liên nhất. Sự
bao dung của Abraham thuở nạo
giờ chỉ còn là một ký ức
xa xăm bị trôn vùi dưới
sát người. Nhưng
người Hồi giáo không im lặng
Từ sa mạc, một
vị tướng huyền thoại xuất hiện
người đã trở thành biểu tượng
của sự hào hiệp ngay cả trong
mắt kẻ thù, Saladin.
Saladin không
chiến đấu bằng sự tàn bạo
mù quáng. Khi
ông tái chiếm lại Jerusalem
ông đã làm điều ngược lại với
quân thập tự. Ông cho
người Ki Tô giáo rời đi an toàn
và bảo vệ các nhà thờ.
Một lần nữa, thế giới
lại chứng kiến sự rằng co
Ai mới là người thực hiện đúng
ý nguyện của Thiên Chúa?
Kẻ trinh phạt bằng gươm giáo
hay người chiến thắng bằng
lòng khoan dung?
Suốt 200 năm, vùng
đất thánh trở thành một lò sát sinh
khổng lồ. Tám cuộc
thập tự trinh nổ ra, hàng
triệu người ngã xuống, nhưng
kết quả cuối cùng chỉ là
sự thù hận sâu sắc giữa các
nhánh đức tin.
Người Do Thái kẹt ở giữa
hai gọng kìm vĩ đại trở thành
nạn nhân của cả hai bên.
Họ bị xua đuổi khỏi
châu Âu vì bị coi là kẻ
giết Chúa và bị nghi ngờ
ở phương Đông. Dân tộc
của Isaac lại một lần
nữa không có nơi cối đầu.
Tại sao Thiên Chúa lại
im lặng trước những cuộc thảm
sát nhân danh ngài?
Tại sao cùng một biểu tượng
Người Ký Tô giáo thấy đó là
nơi Chúa phục sinh.
Người Hồi giáo thấy đó là nơi
ngôn xứ thăng thiên.
Còn người Do Thái thấy đó là
ngôi nhà vĩnh cửu.
Nhưng không ai chịu nhường ai
dù chỉ một tất đếp.
Cầu trả lời cay đắng
nằm ở chỗ.
Tôn giáo khi kết hợp với quyền
lực chính trị sẽ trở thành
một thứ vũ khí hủy diệt.
Người ta không còn nhìn thấy
hình ảnh Abraham hiền
lành tiếp đón những vị khách lạ
mà chỉ nhìn thấy những
danh giới giáo lý cứng nhắc.
Khi khói lửa của
các cuộc thập tự chinh dần tắt
thế giới bước vào một kỳ
nguyên mới của sự chia rẽ.
Ký Tô giáo tiếp tục
phân giã thành Công giáo và
Tin lành. Hồi giáo chia đôi
thành Sunni và Shia.
Mỗi nhánh lại tự
tuyên bố mình nắm giữ
chân lý tuyệt đối và coi
các nhánh còn lại là tả giáo.
Nút thắt của câu chuyện
giờ đây không còn là
việc thờ ai mà là
thờ như thế nào.
Sự khác biệt về nghi lễ,
về các vị thánh và
về cách diễn giải kinh thánh
đã tạo nên những bức tường thành
kiên cố hơn cả những pháo đại
bằng đá ở Jerusalem.
Nhưng
bì kịch lớn nhất vẫn đang
chờ đợi ở phía trước.
Khi bước vào thời kỳ hiện đại,
sự trỗi dậy của chủ nghĩa
dân tộc đã biến những mâu thuẫn
tôn giáo cổ xưa thành
một cuộc chiến sinh tồn khốc liệt
hơn bao giờ hết.
Một dân tộc đã mất quê hương
suốt 2.000 năm, bắt đầu
lên kế hoạch trở về.
Và lần này, họ mang theo
một quyết tâm không thể lay chuyển,
sẵn sàng đối đầu với cả
thế giới để lấy lại
những gì họ tin là của mình
từ thời Abraham.
Thế kỷ 20 ập đến
mang theo những cơn địa
trấn làm thay đổi vĩnh viễn
diện mạo của vùng đất thánh.
Sau gần 2.000 năm
tan tác khắp bốn phương trời,
chịu đựng những cuộc thanh trừng
và đỉnh điểm là thảm họa
Holocaust kinh hoàng tại châu Âu,
con cháu của Igmaen,
người Do Thái, đã đưa ra
một quyết định làm rúng động
lịch sử, trở về nhà.
Họ tin rằng,
không một nơi nào trên trái đất này
an toàn cho họ, ngoại trừ
mảnh đất mà Thiên Chúa đã hứa
với tổ phụ Abraham.
Phòng trào phục quốc Do Thái
trỗi dậy với một khẩu hiệu
đầy nhức nhối, một dân tộc
không đất đai, trở về một
vùng đất không dân tộc.
Nhưng thực tế lại cay đắng
hơn thế, vùng đất ấy không
hề trống rỗng, suốt hơn
một thiên niên kỷ. Con cháu
của Igmaen, người Ả Rập
Palestine, đã sinh sống,
cày cấy và xây dựng bản sắc
của mình trên từng tất đất,
từng gốc Âu Liêu. Đối với
họ, đây không phải là một vùng
đất hứa xa xôi trong kinh thánh,
mà là quê hương, là mồ mả
tổ tiên, là nơi họ đã
đổ mồ hôi và máu
để gìn giữ. Năm
1948,
Vương quốc Israel hiện
đại chính thức tái lập.
Với người Do Thái, đó là
một phép mầu, là sự hoàn
tất lời tiên tri của các ngôn sứ
sau hai thiên niên kỷ lưu đẩy.
Nhưng với người Hồi giáo Palestine,
đó là ngày nắc
ba, ngày thảm họa.
Hàng trăm ngàn người đã phải
rời bỏ nhà cửa, trở thành
những kẻ tị nạn ngay trên chính
mảnh đật của cha ông mình.
Hãy nhìn vào sự chớ treo
tột cùng của định mệnh.
Hai dân tột cùng mang dòng máu
của Abraham cùng tôn thờ
một thiên chúa, giờ đây lại
đứng đối diện nhau qua nòng súng.
Họ tranh giành từng môi
làng, từng con suối, và
đau đớn nhất là tranh giành quyền
sở hữu Jerusalem.
Tại sao Jerusalem
lại trở thành một nút thắt
không thể tháo gỡ? Bởi vì
dưới lòng đất của núi đền
là những tàng đá cổ xưa của đền
thờ Do Thái lần thứ nhất và thứ hai.
Ngay trên mặt đất đó
lại là thánh đường Al-Aqsa
rực rỡ, nơi thiêng liêng
thứ ba của Hồi giáo.
Và chỉ cách đó vài bước chân
là nhà thờ mộ thánh
nơi khi Tô giáo tin rằng
Chúa Giê-xu đã phục sinh.
Chủ nghĩa dân tộc đã khoác
lên đức tin một chiếc áo giáp sắt.
Những cuộc chiến tranh năm
1948,
1967,
1973
không chỉ là cuộc chiến
giành lãnh thổ mà là cuộc chiến
để khẳng định ai mới là
chủ nhân đích thực của lời hứa
từ Thiên Chúa.
Người Do Thái xây dựng những bức tường
bê tông cao ngất để bảo vệ
sự an toàn của mình. Nhưng những
bức tường đó lại trở thành
siềng xích bóp nghẹt cuộc sống của
người Palestine. Tại
Giải Gaza hay Bờ Tây
người ta vẫn nghe thấy tiếng cầu nguyện
vang lên mỗi ngày.
Người Do Thái cầu nguyện
bên bức tường than khóc.
Người Hồi giáo quỳ lại hướng
về Mecca trong tiếng loa
phóng thanh từ các tháp nhọn.
Những lời cầu nguyện ấy
cùng hướng về một Thiên Chúa
nhưng chúng dường như bị
chặn lại bởi những tiếng nổ
của hòa lực và tiếng khóc
của những đứa trẻ.
Nghịch lý nằm ở chỗ
càng sùng đạo con người ta
đôi khi lại trở nên cực đoan.
Những kẻ cực đoan
Do Thái muốn san phẳng
thánh đường Hồi giáo để xây lại
đền thờ. Những kẻ
Hồi giáo cực đoan lại nhân danh
thánh chiến để đòi xóa sổ
quốc gia Do Thái.
Còn những tín hiểu kỳ tô giáo
ở giữa chỉ biết ngậm ngùi
nhìn vùng đất hòa bình của Chúa
biển thành một thao trường
đẫm máu.
Tại sao cùng một đức tin độc thần
cùng học về lòng nhân tử
mà người ta lại có thể
nhân danh ngài để gieo rắc
thù hận? Phải chăng
chúng ta đã quá tập trung vào
những dòng chữ khác biệt trong
Kinh Thánh, Kinh Cổ Ran hay
Kinh Tô Ra mà quên mất
cái ôm hòa giải của
Abraham dành cho cả hai đứa
con của mình sao?
Thế giới hiện đại
nhìn vào vùng đất Thánh với sự
bất lực. Mọi giải pháp
chính trị, mọi hiệp định
hòa bình đều tan vỡ trước
bức tường định kiến tôn giáo
dày đặc. Khi đức tin
bị chính trị hóa, nó không
còn là liều thuốc chữa lành
mà trở thành chất xúc tác cho
sự hủy diệt. Và
câu hỏi nhất nhối nhất vẫn còn
đó. Liệu có bao giờ
nhánh của Isaac và
nhánh của Igmaen có thể
cùng soi bóng xuống dòng
Jordan trong hòa bình sao?
Hay cuộc chiến này
sẽ kéo dài cho đến ngày tận thế
như một sự trừng phạt
nghiệt ngã dành cho những đứa con
không biết yêu thương nhau trong
ngôi nhà của cha?
Chúng ta đang tiến đến
chương cuối cùng của hành trình này.
Một chương không chỉ nói
về quá khứ hay hiện tại
mà nói về một hy vọng mong manh
đang bị đe dọa bởi những
bóng đen của tương lai.
Sau khi đi qua dòng chảy
4.000 năm từ
sa mạc của tổ phù Abraham
đến những bức tường
bê tông của thế kỷ 21
chúng ta đối mặt
với một sự thật trần trùi.
Ba tôn giáo lớn nhất
thế giới không chia rẽ
vì họ thờ phụng những vị
thần khác nhau mà vì
họ tranh giành quyền sở hữu
chân lý duy nhất.
Hãy nhìn lại
một lần nữa. Người
Do Thái bám chặt vào
giao ước cũ tin rằng họ
là dân tộc duy nhất được chọn
để giữ gìn luật pháp
thánh khiết của Thiên Chúa.
Người Ki Tô Hữu tin vào
một giao ước mới nơi
tình yêu và sự hy sinh của
Chúa Giê-xu đã phá đổ
mọi bức tường ngăn cách giữa
các dân tộc. Người
Hồi Giáo tin vào một sứ điệp
cuối cùng chấn hương
lại tinh thần phục tùng tuyệt đối
của Abraham trước
một Thiên Chúa duy nhất
không hình hài, không chia sẻ
quyền năng.
Nghịch lý lớn nhất của lịch sử
loài người nằm ở đây.
Càng yêu kính Thiên Chúa
con người dường như lại
càng khó yêu thương nhau.
Tại sao cùng đọc
về lòng nhân tử nhưng người ta
lại sẵn sàng nhân danh ngài
để gieo rắc đau thương?
Tại sao cùng tôn kính
Abraham là cha
nhưng những đứa con của ngài
lại không thể ngồi chung một bản tiệc?
Câu trả lời
không nằm ở trên trời cao
mà nằm ở sự hữu hạn
và lòng kiêu ngạo của con người.
Chúng ta đã
biến những mặt khải thánh thiêng
thành những danh giới chính trị.
Chúng ta đã biến những lời
kinh thành những khẩu hiệu chiến tranh.
Chúng ta đã quá
tập trung vào những dòng chữ khác biệt
trong Kinh Thánh, Kinh Cô Ran
hay Kinh Tô Ra
mà quên mất rằng
trong cả ba cuốn sách ấy
Thiên Chúa đều hiện thân
là đẫng giàu lòng thương xót
và chậm bất bình.
Vùng đất thánh Jerusalem
vẫn đứng đó như
một chứng nhân câm lặng.
Những tàng đá cổ xưa đã thấm đẫm máu
của cả ba đức tin.
Có lẽ Thiên Chúa
để ba người con của mình
cùng hiện diện trên một mạnh đất
nhỏ bé, không phải để họ
tiêu diệt lẫn nhau
mà là để đặt ra một bài thử thách
tối thưởng.
Liệu con người có thể yêu thương
kẻ khác biệt với mình như
yêu chính mình hay không?
Nếu Abraham
xuất hiện giữa chúng ta ngày hôm nay
Ngài sẽ thấy gì?
Ngài sẽ thấy
những đứa con của mình
đang dùng chính tên Ngài để biện minh
cho những hỏng súng.
Ngài sẽ thấy nhánh của Isaac
và nhánh của Ishmael
đang nhìn nhau qua những lớp hàng rào
gai thép thay vì
những cái ôm hòa giải.
Nhưng trong bóng tối
của những cuộc xung đột
vẫn có những ánh sáng le lói.
Đó là những bác sĩ
do Thái cứu chữa cho
trẻ em Palestine.
Đó là những người Hồi giáo
bảo vệ các nhà thờ kỳ tô giáo.
Đó là những tâm hồn
nhận ra rằng
trước khi là một tín hiểu
của một tôn giáo nào đó
chúng ta đều là những tạo vật
của cùng một đấng sáng tạo.
Hành trình của chúng ta
hôm nay không nhằm
mục đích phân định ai đúng ai sai.
Lịch sử không phải
là một quan tòa.
Lịch sử là một tấm gương.
Khi nhìn vào tấm gương ấy
chúng ta thấy được rằng
sự đa dạng của các tôn giáo
không phải là một lỗi
của định mệnh mà là
một lời mời gọi để tìm thấy
sự thống nhất trong sự khác biệt.
Ba con đường
nhưng có lẽ tất cả
đều đang cùng leo lên một ngọn núi
từ những sưởn dốc khác nhau.
Khi càng lên cao
khi hơi thở của trần gian
càng loãng đi và ánh sáng
của chân lý càng dạng dỡ
họ sẽ nhận ra rằng
đỉnh núi chỉ có một
và đứng ngự trị trên đó
vẫn luôn chờ đợi những đứa con
của mình trở về trong hòa bình.
Video này xin được khép lại
bằng một câu hỏi dành cho chính bạn.
Nếu tất cả chúng ta
đều sinh ra từ cùng
một gốc rễ,
liệu chúng ta có thể chọn cách nhìn vào
những điểm chung thay vì những khác biệt
để xây dựng một thế giới
bớt đau khổ hơn?
Nếu bạn thấy những kiến thức này
cần được lan tỏa
để xóa tan những định kiến
hãy nhấn like, chia sẻ
và đăng ký kênh.
Đó là cách bạn cùng chúng tôi
xây dựng một cộng đồng
chi thức và bao dung hơn.
Hẹn gặp lại các bạn
trong những hành trình giải mã tiếp theo.
