5 KIỂU NGƯỜI TRỜI PHẬT KHÔNG THƯƠNG XÓT

Học Hiểu Hành
82 Người theo dõi
5 KIỂU NGƯỜI TRỜI PHẬT KHÔNG THƯƠNG XÓT
#hochieuhanh #conhanday #loidayconhan #tuduyconhan #tritueconhan #conhan #tuduy #tritue
Phật dạy, 5 kiểu người khó được Phật độ, chăm chỉ lễ bái cúng dường cũng vô ích, mong rằng không có bạn.
Quý vị thân mến, Đức Phật là Bậc Đại từ Đại Bi, sót thương hết thảy chúng sinh.
Ngài thương nhân loại bằng sự bình đẳng và luôn chỉ dạy cho chúng sinh con đường để thoát khỏi bể khổ.
Tuy nhiên, có một sự thật rằng, kể cả khi Đức Phật còn tại thế hay cả khi Ngài đã nhập Niết Bàn,
vẫn có những người không có được phước duyên biết đến Phật, không gặp được giáo pháp của Phật.
Cho nên trong nhà Phật mới có câu, Phật độ hữu duyên nhân, người vô nhân vô duyên Phật cũng không độ được.
Cần phải hiểu rằng, Phật độ không có nghĩa là cầu nguyện, vàng vái điều gì thì sẽ được Phật ban cho điều ấy.
Mà Phật độ ở đây chính là Phật chỉ dạy cho chúng ta con đường giải thoát giác ngộ,
để tự mỗi chúng ta, tùy theo bản nguyện, căn cơ, hoàn cảnh của chính mình, để tự mình hóa giải những phiền não vô minh.
Phật độ là Phật giúp cho chúng ta phương tiện để qua sông.
Nhưng chính chúng ta phải tự mình nghiên cứu, tu tập, thực hành và sống đúng với chánh pháp thì mới có thể giải thoát, an vui và tự tại.
Ngược lại, nếu chúng ta cứ mãi mê ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, vang vái cầu nguyện,
cúng bái thật nhiều tiền của, mà tự mình không chịu lo tu sữa, tánh tham, tật đố không chừa,
tâm còn vẫn còn hần, lòng còn chạy theo si mê ái dục,
thì đây chỉ là tu hành theo hình thức, không có một ý nghĩa hay giá trị nào hết.
Dưới đây là 5 kiểu người khó được Phật độ, chăm chỉ lễ bái, cúng dường cũng vô ích.
Mong rằng không có bạn.
Thứ nhất, người hay đố kỵ không được độ.
Người ta ví người Việt như những con cua bị nhốt trong giỏ không đẩy nắp,
nhưng không con nào thoát được, vì mỗi khi có con nào vương lên, liền bị các con khác kéo xuống.
Sự ghen ghét, đố kỵ làm cho chúng ta hại người, hại mình, và cũng chết mà không biết.
Nó gây tổn thương, chia rẽ và không thể có được sự đoàn kết.
Như khi thấy nhà hàng xóm ăn nên làm ra, ta không vui mừng thấy cho họ,
không học hỏi sự siêng năng, cần mẫn, giỏi gian hay kinh nghiệm của họ.
Ta ghen ghét, đố kỵ và nhìn họ bằng con mắt ác cảm,
và tưởng tượng ra đủ thứ xấu xa trong đầu để nhủ.
Họ cũng thường thôi, sao mà giỏi hơn ta được.
Chẳng qua là vì xấu xa, bất chính nên mới giàu.
Và rồi họ bị đặt, nói xấu, vu khống,
Tâm tật đố, sân hận cũng là một trong những tâm cần phải cắt bỏ của người tu Phật.
Điều này cũng giống như người em họ của Đức Phật là đề bà Đạt Đa.
Vì ganh tị với tài đức của Đức Phật,
đã dẫn dắt tăng đoàn, phỉ bán và phá hoại nhiều lần khi Đức Phật thuyết pháp.
Cuối cùng dẫn đến đọa vào đường ác.
Vì vậy, hạ người này dù có nhân duyên với học Phật,
nhưng trên con đường học Phật thường đố kỵ với những người học và hành giỏi hơn bản thân mình.
Kết quả là họ nảy sinh lòng ganh ghét đối với người khác,
và thậm chí có nhiều hành vi phi lý.
Như vậy, sao có thể kết Phật duyên và được Phật đổ?
Đố kỵ là sự ganh ghét.
Lòng đố kỵ là một bệnh hoạn,
nhìn mọi sự việc méo mó theo cái tâm ích kỷ, không công nhận,
dẫn đến khó chịu khi người khác hơn mình.
Không muốn ai hơn mình,
để rồi tìm cách cô lập hoặc tiêu diệt kẻ khác để được sinh tồn mà tha hồ hưởng thụ,
và bài trừ những thành tựu của người khác.
Đố kỵ là tính xấu của con người từ xa xưa đến nay.
Đố kỵ chẳng còn xa lạ.
Trong cuộc sống, vì ông cha ta đã có rất nhiều câu
để nói về lòng đố kỵ như gan ăn tức,
ở hay trâu buộc ghét trâu ăn.
Sống trên đời này,
đừng bao giờ vội vàng phủ nhận rằng mình không có lòng đố kỵ với bất kỳ ai.
Thực tế thì lòng đố kỵ nó tại ở nhiều hình dạng khác nhau ở trong mỗi chúng ta,
dù nó nhiều hay là ít,
dù có dám thừa nhận hay là không.
Có người nói ra việc gan ghét ai đó là việc đương nhiên,
cảm xúc tự nhiên của mình.
Nhưng có người lại chọn âm thầm giấu đi.
Và điều đáng nói là không phải ai cũng nhận diện được
rằng lòng đố kỵ chính là một thói xấu thường trực
và có thể gây ra những hậu quả xấu.
Chính nó cũng là nguyên nhân khiến cho chúng ta
nhìn mọi sự việc trở nên méo mó dưới lăng kính của mình.
Thấy ai thành công thì chúng ta cũng không công nhận,
đã dẫn đến khó chịu,
nói những lời mỉa mai.
Có phải chăng là vì cái tôi quá lớn
nên chúng ta đang mang bản thân của mình
đi so sánh với những người khác.
Thấy yêu kém hơn về mặt nào đó
khiến cho lòng đầy ích kỷ dân trào.
Chúng ta chỉ biết mỗi mình
xem bản thân là rốn của vũ trụ
và làm cái gì cũng phải xuất sắc nhất,
không có ai sánh bằng chúng ta.
Vậy nhưng điều đó là không thể.
Chính vì thế mà hãy tỉnh táo trong nhận thức
để tránh việc sa đà.
Khi mà bạn đã bắt đầu nổi lòng ghen tị với ai đó,
chúng ta nên nhớ rằng cuộc sống này là vô thường.
Những gì mà chúng ta có hay những người khác đang có
cũng là giả tạm.
Chính vì thế, chúng ta có ganh đua,
ghen tức với những điều vô nghĩa đó
thì cũng chẳng có ích gì.
Trong khi đó, nếu chúng ta biết vui,
biết chúc phúc cho họ thì sẽ được nhiều thứ,
bao gồm cả gia tăng hạnh phúc cho chính bản thân mình.
Đáng buồn là ít ai có thể làm được điều này.
Thứ hai, những kẻ su nịnh khó được phật độ.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay,
rất nhiều người khi vừa gặp người thân,
bạn bè, bạn học hay đồng sự
liền nói những lời khen tặng lẫn nhau.
Không quản đó có là thật tâm thật ý
hay là khẩu thị tâm phi,
họ cũng không ngại nói những lời đải bôi,
thổi phồng nhằm làm vui lòng đối phương.
Thậm chí, không ít người còn cho đó là tài ăn nói
hay năng khiếu xã giao.
Nhưng suy ngẩm kỹ một chút,
nó chẳng phải là những lời a dua,
su nịnh, bợ đỡ sao.
Đức Phật cho rằng kiểu người khó được phật độ.
Thứ nhất là những người quen thói su nịnh tân bốc.
Lời Phật dạy rằng
không vu nịnh giữ tâm đoan chánh.
Những kẻ ưa nói lời vu nịnh
sẵn sàng nói ra những lời không thực tâm,
thay đổi thái độ bất cứ lúc nào
miễn là đạt được mục đích của bản thân.
Phật cho rằng loại hành vi này
là hành vi của kẻ ác.
Nhiều người dành nhiều thời gian, công sức,
tiền của để lễ bái cầu thần khấn Phật.
Nhưng nếu không đạt được điều mình muốn,
họ có thể làm ra một số hành vi
phỉ bán tam bảo.
Trong cuộc sống hàng ngày,
mọi người ai cũng rất yêu chuộng sự chân thành,
không một ai thích những người
sống vô nịnh giả dối cả.
Trong Kinh Đại Bác Niết Bàn, Phật có dạy
chẳng phải chỉ có người lực sĩ mới
có nhiều sức mạnh mà người ngay thẳng thắng
được tâm của chính mình còn mạnh hơn cả người lực sĩ.
Phật đã trải qua vô số kiếp
chẳng nghe theo tâm mà nỗ lực
tinh tấn đạt đến quả vì Phật.
Thế nên chúng ta sống chính trực,
ngay thẳng và chân thành là những điều
mà chư Phật, chư Tổ và những Bậc Thầy
mong mỏi ở chúng ta.
Chúng ta phải cố gắng từng ngày
cải thiện những tật xấu dở trong cuộc sống hàng ngày,
bỏ đi những tâm tà mị vô nịnh
để sống với bản chất của tâm thể như chúng ta
thuở ban đầu, để xứng đáng là người tu sĩ,
là đệ tử của Phật,
sống được với tâm Phật của chính mình.
Người xưa cũng có câu rằng
nhân tâm sinh nhất niệm, thiên địa tận dai truy.
Con người hãy khởi ra một niệm,
trời đất đều tỏ tường,
một niệm sinh ra tuy chưa thành hành động
nhưng nhiều khi đã định ra tội phúc của mỗi người.
Những người biết kính sợ trời đất,
thân Phật, hiểu luật nhân quả
sẽ áp chế tài niệm, kiên định chính niệm,
giữ bản thân trong sạch cả thân lẫn tâm,
nâng tích đức hành thiện.
Do đó hành vi a vô nịnh nào cần
phải được xóa bỏ.
Chúng sinh sống xô nịnh tức là có đạo đức giả,
không từ thủ đoạn miễn là đạt được
mục đích, mưu cầu lợi ích cá nhân.
Những kẻ như vậy chẳng những
đánh mất phước báo mà còn khó
được Phật phổ độ cứu giúp.
Thứ ba, những kẻ gian ác
bất nghĩa không thể độ.
Đức Phật cho biết loại
người thứ hai khó được độ là những người
gian trá ác độc.
Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những người
làm việc ác. Tuy ban đầu rất
nhỏ nhưng nếu không kịp thời từ bỏ,
kịp thời dập tắc, cứ để tích chứa
trong lòng lâu ngày sẽ dẫn đến nguy hại
cho mình và mọi người.
Đức Phật gọi người này là người ngu.
Thế nên trong kệ ngô 121
phẩm ác thuộc Kinh Pháp Cú,
Đức Phật dạy, chở chê khinh điều ác,
cho rằng chưa đến mình như nước nhỏ từng
dọt đồi bình cũng đầy trang.
Người ngu chứa đầy ác do chất chứa
dần dần. Ở đây, Đức Phật
dạy người ngu là người làm việc ác,
ít chứa việc ác. Ác nghiệp này
dẫn ta vào chỗ tối tâm, mù mịt,
khổ đau.
Việc ác là những điều mình làm sai với
luân thường đạo đức, sai với chánh pháp,
làm cho người phải chịu khổ đau qua lời nói,
suy nghĩ và việc làm.
Đối với những điều ác, chúng ta
chớ có khinh thường cho dù việc đó
rất là nhỏ nhưng tích chứa dần dần
sẽ trở thành việc cực ác.
Hồi nhỏ thì mình ngắt đầu dế,
bắn chim, đâm ếch, giết các loại
thú vật không một chút sót thương.
Đến khi lớn lên gặp chuyện ngang trái,
do thói quen giết các con vật nên
lúc này giết người cũng không gớm tay.
Thế nên chúng ta hãy cẩn thận
với những việc làm của mình.
Cổ Đức có câu, Bồ-Tát sợ nhân,
chúng sanh sợ quả.
Bồ-Tát đã nhận thức rõ ràng nhân nào quả đó
nên các ngài sợ nhân ác,
nhân xấu không dám làm.
Còn chúng sanh mê mụi nhận thức sai
lầm nên thấy việc ác không biết
sợ hãi quả báo, cứ lao đầu vào làm.
Theo Đức Phật, đẹp, xấu,
giàu, nghèo, sang,
hèn của kiếp này không tự nhiên
mà bị mà được.
Người nào nhiều đời trước hay chọn lòng bố thí
thì đời nay phải an cư lạc nghiệp.
Kẻ nào nhiều đời trước hay tham lam
bụng xỉn thì đời này nghèo khó, bần cung.
Người nào nhiều đời trước
nhu hòa, nhẫn nhục thì đời này
đoan chính, thanh cao.
Kẻ nào nhiều đời trước hay nổi tam
bành lục tặc thì đời này tướng mạo xấu xí.
Người nào nhiều đời trước
chí tâm đảnh lễ chư Phật
thì đời nay cao quý và được nhiều người quý trọng.
Kẻ nào nhiều đời trước hay
ngã mạng cống cao thì đời nay
phải sinh làm hạ tiện.
Đối với việc ác dù là rất nhỏ
cũng phải kiệt thời từ bỏ, nếu tích chứa
lâu ngày sẽ dẫn đến sự nguy hại cho mình và người khác.
Còn người đời do ngu si
mà khởi tam tham lam, do khởi tam tham
mà tạo ác nghiệp tàn hại lẫn nhau.
Còn giết cha, trộm hại thầy
chồng ức hiếp vợ, vợ lấm nước chồng
tạo thành mối lãi suất.
Không gì xa lạ,
đó đều là những người thân của mình hiện tại.
Mọi người xa lắng
phải vào tù ra tội
bị mọi người nguyền rủ tiếng xấu để đời.
Cho dù có trốn được pháp luật
nhưng không thể thoát khỏi luật nhân quả.
Cổ nhân có câu
lưới trời lồng lồng tuy thưa nhưng không lọt.
Nghĩa là thiện ác đều có báo ứng
chỉ là sớm hay muộn mà thôi.
Thứ tư, kẻ nói lời ác
không thể được Phật độ.
Đức Phật nói loại người thứ ba khó được độ
là những người nói lời ác độc.
Bất cứ ai nghiên cứu về Phật giáo
đều biết lợi ích của việc giao thiện khẩu
lớn lao như thế nào.
Nếu không giữ gìn tốt cái miệng của mình
nói ra những lời hay ý đẹp, tốt đời đẹp đạo
thay vào đó là những lời đổi trắng thay đen
nói xấu người khác, gieo ác nghiệp
thì điều chỉnh mất phước mà còn tạo
vô số nhân ác.
Đức Phật vậy, ác khẩu hay còn gọi là ác ngữ
là một trong bốn điều bất thiện thuộc về lời nói
vọng ngữ, ý ngữ,
lưỡng thiệt, ác khẩu.
Nó sẽ gây ra nhiều hối hận cho con người
trong cuộc sống sau khi nói ra.
Tác dụng của lời nói có thể xoa dịu
nỗi đau trong lòng, làm vơi đi những
tâm trạng buồn.
Lời nói nhã nhặn, lời khuyên đúng thời đúng lúc
sẽ có thể thay đổi những suy nghĩ tiêu cực
của đối phương và từ đó dần dần sẽ làm
thay đổi những hành vi, những việc làm
bất thiện. Ngược lại,
lời nói cũng có thể đưa con người vào vực thẳm
của tội lỗi, có thể khiến người ta
ăn năng hối hận cả cuộc đời.
Trong đó, lời nói ác ngữ,
ác khẩu là một trong những nguyên nhân đưa
đến hậu quả như thế.
Ác khẩu, ác ngữ là lời nói thăm
độc, thô bạo, mắng nhiếc,
chửi rũa, là những lời lệ thiếu văn
minh đạo đức trong giao tiếp.
Đương nhiên, nói nặng lời hoặc lớn tiếng
trong trường mực nào đó không phải là ác ngữ,
nhất là trong quá trình giáo dục con cái
của cha mẹ, giáo huấn học trò
của thầy cô. Trong Kinh Phật
có bài học đạo lý rằng con người nghe
Đức Phật trích từ bi, rất có đạo hạnh
nên cố ý đến mắng nhiếc Đức Phật,
nhưng khi chửi mắng Đức Phật đều lặng thinh,
chẳng đáp. Khi người ấy mắng nhiếc
xong, Phật hỏi ông đem lễ vật tặng
người khác, người ấy không nhận thì
lễ vật ấy. Cuối cùng sẽ thuộc
về ai? Người ấy đáp rằng lễ vật
vẫn là của ông ta. Đức Phật
liền nói, này ông mắng nhiếc ta
nhưng ta không nhận, ông tự mang
vào thân ông. Vậy cũng giống như
lang là do nương theo tiếng mà có,
như bóng do hình mà thành,
cuối cùng vẫn chẳng tránh được.
Hãy thận trọng, chở nói lời
mắng nhiếc ác ngữ. Theo đạo lý
nhân quả trong Phật giáo, thì một
việc làm, một lời nói, một ý niệm
suy nghĩ của thân, miệng,
ý dụ đó là thiện hay bất thiện đều đưa
đến kết quả nhất định của nó.
Có những hành vi, lời nói, suy nghĩ
được lập đi lập lại nhiều lần thì kết quả
hiện hành rõ ràng hơn, chi phối
mạnh mẽ hơn trong đời sống thường ngày của cá nhân
đó. Cho nên có câu sách
tấn rằng, phàm làm việc gì
suy nghĩ đến hậu quả của nó.
Hay Bồ Tát sợ nhân,
chúng sanh sợ quả. Tức là
người trí, người giác ngộ thì làm việc gì,
nói lời gì, nghĩ điều gì luôn
luôn cẩn trọng, cân nhắc đến hậu quả
của nó. Còn người mê
thì cứ làm, cứ nói, cứ hành
sự theo cảm tính, theo suy nghĩ cá nhân
của mình cho thoả dạ, hạ lòng.
Khi hậu quả đến thì lo
ô, sợ hãi.
Bởi vậy Đức Phật đã dạy, ở đời
luôn có lực nhân quả.
Đừng bao giờ nói xấu hay làm chuyện hại
người. Bạn hãm hại người khác
thì sẽ có người khác hãm hại lại bạn.
Bạn lừa dối người khác
cũng có người khác lừa dối bạn.
Vết thương bạn gây ra trên thân
thể người khác còn có ngày lành.
Còn vết thương gây ra do lời nói thì
chẳng biết khi nào mới lành lặng được.
Theo nhà Phật, lời nói nói ra
làm người khác đau khổ thì đều là một cách
giao nghịch bất thiện. Vì thế
theo lực nhân quả họ cũng sẽ phải chịu quả
báo xấu như thường. Xét cho cùng
lời nói không mất tiền mua nhưng
không phải. Bồ đề
trong suốt một tuần Phật bày tỏ lòng tri ân
sâu xa của mình đối với cây bồ đề đã che
chở nắng mưa cho ngày trong suốt thời gian tàm đạo.
Có lẽ bài pháp đầu tiên
Đức Phật dạy cho cuộc đời là một bài học
về lòng biết ơn. Phật dạy
làm người là nhận một bữa cơm ân Đức
một đời nhận một lần.
Giúp ghi nhớ một kiếp sống phải có
trước có sau. Nếu con người
sinh thái vô ơn đối với thứ được nhận cho
là đương nhiên thường xuyên nhận sự
chiêu đải của người khác mà không màn tới đáp đền
thì tất sinh ra hóa nghiệp. Nếu
không biết đền ơn thì chẳng những làm
điều bất hiếu với cha mẹ
mà còn thường nuôi lòng hận thù với thân
bằng quyến thuộc. Điều này
không chỉ khiến quý nhân tránh xa bạn mà
còn ngăn cản bạn có cơ hội đến gần với
Phật. Quý vị thân mến
sống trên đời hiệu quả báo không và quả báo
sẽ đến khi nào không ai có câu trả lời
cụ thể. Nhưng chắc chắn
tất cả những việc ta làm đều sẽ tạo thành
nhân quả khác nhau. Làm
việc xấu việc ác thì quả báo nhất định
sẽ xuất hiện. Chẳng qua là
có người thì quả báo đến sớm hơn, còn
có người thì quả báo đến sau mà thôi.
Vì vậy chớ coi thường mà làm
càng kéo trả nghiệp nhiều đời vẫn
không hết. Thứ nhất
ta cùng lắng nghe và tìm hiểu nhân quả báo
ứng có thực sự tồn tại hay không.
Theo thiên lý, thiện ác hữu báo
người hành ác vô độ sẽ có ngày
gặp quả báo, chút lấy những khổ
đau mà mình đã gây ra cho người khác.
Người xưa răng dậy,
hãy tích đức nhiều hơn để đời sau được
tốt hơn. Bởi khi mất đức,
có đi ăn xin cũng không ai bố thí,
phúc phận bị tiêu hao, thậm chí
phải chịu cực hình nơi địa ngục.
Chuyển sinh làm người vẫn chưa hết
nhân quả báo ứng. Thế gian
hỗn độn, con người trong vô minh
có khi tạo nghiệp không hay biết.
Có những việc nhỏ tưởng chừng như vô
hại nhưng đôi khi sẽ để lại hậu quả
không ngờ đến. Thiện ác tất
có báo ứng. Nhưng có
thật sự là nhân quả báo ứng có thật
trên đời này. Ngày nay có câu
nói chúng ta thường nghe thấy, người tốt
không sống lâu, người xấu sống ngàn
năm. Câu nói dường như
đang biểu thị sự bất lực với cuộc đời và
sự nghi ngờ về thiên lý thiện ác hữu báo
của cổ nhân. Thấy những người
xấu làm điều ác nhưng vì quyền thế mà
họ có thể thoát khỏi sự nghiêm trị của
pháp luật. Những người có tinh thần trọng
nghĩa lại bất lực và chỉ có thể thốt ra
câu nói thiện ác hữu báo trên để an
ủi bản thân. Vì đã có nhiều
câu chuyện thực tế khiến người ta lực
bất đồng tâm khi chứng kiến hành vi ác
nhân của người khác nhưng báo ứng không tới.
Cho dù tin vào thiên lý nhân quả
báo ứng thì lâu ngày khó tránh
khỏi trong tâm có chút nghi ngờ.
Luật nhân quả chính là một quy luật tự
nhiên của vũ trụ, được hoạt động
để giữ gìn trật tự. Nếu như
không có luật nhân quả thì trật tự của
con người sẽ bị đảo lộn, khiến cho
muôn vật trên các hành tinh bị tiêu diệt.
Luật nhân quả vốn không phải do con
người hay một đấng tạo hóa nào tạo nên
mà nó được sinh ra và vận hành
theo cơ chế của vạn vật tự nhiên.
Được tạo thành thiện ác không phải là
không báo, chỉ là chưa đến lúc.
Nhân quả báo ứng là có thật.
Tất cả những gì mà chúng ta có được
chúng ta trải qua là kết quả
từ quá trình từ hành động mà chúng ta
tích lũy ở kiếp trước, hay còn gọi đây là
nghiệp báo. Bởi vì nghiệp khi đã
được gieo thì dù trăm năm hay ngàn
kiếp cũng không thể mất đi được. Luật
nhân quả chính là quy luật tự nhiên
của trời đất vô cùng công bằng, không hề
thiên vị với bất kỳ ai.
Thứ hai, vậy quả báo đến khi nào?
Có cầu thắng thua vô định.
Quả báo phần mình thắng
thua trên đời là điều khó đoán và
không ai có thể đảm bảo rằng mình sẽ
luôn bất khả chiến bại. Nhưng quả báo
nhất định sẽ xuất hiện và công bằng với
mỗi hành vi tốt xấu của con người.
Chẳng qua là con người thì quả báo đến
sớm hơn, còn có người thì quả báo
đến sau mà thôi. Không phải là
không có quả báo, chẳng qua thời cơ
chưa tới mà thôi. Hiện báo
hay đó chính xác là hiện thế báo, là
có báo ứng ở hiện tại.
Sinh báo là chỉ việc kiếp này làm
thì kiếp sau như có báo.
Còn cái gọi là hậu báo là nói kiếp này
làm đủ loại nghiệp, không bị hiện thế báo
cũng không bị sinh báo, mà họ
phải trải qua nhiều kiếp nữa mới bị báo.
Sống trên đời thiện ác hữu
báo khác nhau là sớm hay muộn?
Quả báo tới sớm thì có khi
chưa đầy một năm đã nếm trải, nhưng
quả báo tới muộn thì có khi tới tuổi
xế chiều mới phải nhận lấy.
Vậy tại sao nghiệp chướng
của những kẻ xấu, kẻ ác không linh
ứng ngay? Có phải là để trì
hoạn nó cho đến sau này?
Có thể là do họ làm ác chưa đủ,
có thể là do ông trời muốn họ phải chịu
quả báo lớn hơn nữa.
Nhưng một điều chắc chắn là quả báo đến muộn
không chỉ ảnh hưởng tới đời mình mà còn
ứng nghiệm lên cả đời con cháu về sau.
Con người nói rằng quả báo của một người
thường sẽ dần dần xuất hiện trong 10 năm
cuộc đời, ở độ tuổi từ 50
đến 60.
Ở tuổi 50 trạng thái
của con người sẽ rất khác nhau.
Một số người sẽ cảm thấy bồn trồn,
một số người sẽ cảm thấy cảm xúc lạc
lỏng, số khác lại cảm thấy nhẹ nhõm
và sảng khoái. Những người
bồn trồn hoặc là đã từng làm điều xấu
và cảm thấy sợ hãi khi về già.
Còn một người luôn mang vẻ tươi tỉnh
hoặc đã giữ được cái tâm trong sáng gần như
cả đời và chưa làm điều gì xấu,
thì khi về già sẽ được tự nhiên an nhiên tỉnh
tại đối với người bình thường.
Thứ ba, mong muốn của con người trong
cuộc đời này không phải là cái gọi là tiền
tài danh vọng mà là sự bình yên
trong tâm hồn. Đến lúc
nhắm mắt xuôi tay, những thứ như tiền
tài, danh vọng vốn không thể mang đi
theo, giàu có đến đâu cũng chẳng là gì.
Có những người mong muốn làm
giàu đến mức mù quán, sẵn sàng
làm tất cả, mỗi năm cứ dịp đầu
năm mới đều lên chùa tháp nén nhan cầu khấn
mong thần Phật phù hộ cho mình.
Nói một cách thực tế hơn,
việc cầu trời khấn Phật này chính là tự
dối mình vì vốn dĩ nếu người đó
làm ăn chân chính, có lương tâm,
không bóc lột nhân viên, càng không lừa
dối khách hàng thì đâu cần phải cầu trời khấn
Phật. Quả báo chắc chắn cuối
cùng sẽ đến. Trong tuổi già
của con người cần phải ghi nhớ điều này
để tự trang dạy bản thân biết kính sợ,
làm người lương thiện và trong sạch,
luôn hành thiện tích đức, như vậy mới
có thể an phận cả đời.
Thứ tư, báo ứng của mỗi người là
do chính mình làm ra.
Nhân quả báo ứng chính là làm thiện được
quả báo thiện, còn làm điều ác bị
quả báo ác. Luật nhân quả
chính là phương thức, quy tắc
cố định của nhân quả.
Dấu ấn mỗi hành vi xấu ác đều phải
chịu ác báo tương ứng với hành vi đó.
Căn cứ vào những hành vi xấu
ác nặng hay nhẹ mà có quả báo khác nhau.
Nhân quả trên đời
vốn rất công bằng và cũng không ai
có thể trốn tránh được nhân quả.
Giao gió gặp báo, nguyên nhân đưa đến
khổ đau không phải do hoàn cảnh,
không phải do người khác, mà chính từ
nơi mình đã gây ra.
Bởi vì cứ mãi chạy theo
vật chất, thàm đắm sắc dục,
chúng ta lãng quên tâm linh sáng suốt,
không tin nhân quả, không học các sống
để thương yêu bằng trái tim hiểu biết.
Do đó mà ta phải chìm nổi lên
đên trong biển khổ, sông mê
không có ngại thô dứt.
Bây giờ có duyên được học lại bài học nhân quả
là ta phải biết thương yêu, đùm bọc,
giúp đỡ lẫn nhau với tấm lòng vô ngã
vị tha. Trên đời này
chỉ có tuệ giác của Đức Thế Tôn và
Thần Thông Đệ nhất, Bồ Tát,
là hãng cùng các thánh giả mới
có thể thấy rõ nhân quả của chúng sinh.
Còn có người bằng mắt thịt thì lại không.
Cũng bởi vì không thấy nên
nhiều người đã không tin hoặc lòng tin
rất dễ lung lây, không kiên định.
Đó là lý do dù có nhiều người tu
nhưng giải thoát chứng đạo thì chẳng có bao nhiêu,
thậm chí một vài người còn bị đọa lạc.
Nhân quả có ba thời,
quá khứ, hiện tại, tương lai.
Trong thời hiện tại,
tức hiện báo, vẫn có người chưa tin,
hủng chi những thời tương lai,
sinh báo và hậu báo.
Nhưng chắc chắn rằng ác sẽ bị ác báo.
Quả báo ác sẽ theo người
làm ác như bóng theo hình,
như bánh xe theo chân con vật kéo xe,
bất luận người đó là ai.
Thứ năm, sự linh nghiệm của nhân quả báo ứng.
Sợ dĩ có người nghi ngờ
nhân quả thiện báo ác báo
vì thấy người lành gặp nhiều thăng trầm,
khổ đau, còn kẻ ác được thịnh vượng,
trường thọ.
Câu chuyện dân gian về báo chứng sau đây
có thể giúp mọi người hiểu rằng mọi việc đều có nhân quả,
mặt thấy chưa chắc đã là sự thật.
Chuyện kể rằng,
ở một nơi nào đó vào thời nhà Tống có một chàng trai trẻ,
cha mẹ qua đời,
anh này bị tàn tật, sống bằng nghề ăn mây.
Nhưng tính tình tốt bụng,
thường thích giúp đỡ người khác
tại địa phương anh sinh sống.
Nước sông chảy xiết nhưng lại không có cầu bắt qua,
nên rất nguy hiểm,
mỗi khi đến mùa nước dân là gần như không thể qua được bờ bên kia.
Điều này khiến các trưởng lão
địa phương đau lòng.
Thấy cảnh này,
chàng trai trẻ muốn xây một cây cầu đá,
nên đã bền biển nhặt đá hàng ngày,
bất chấp sự chế dẫu của người khác.
Theo thời gian,
từ năm này qua năm khác,
đá chất đóng thành một quả đôi.
Mọi người vô cùng xúc động
và cùng nhau bắt tay xây dựng cây cầu đá.
Trong một lần đục đá,
chàng trai kia bị mảnh vụn bắn vào mắt dẫn tới mù loà.
Mọi người than trời không công bằng,
nhưng chàng trai trẻ không phàn nàn gì cả,
vẫn cố gắng hết sức để giúp đỡ dân làng.
Cầu vừa xây
sau khi mọi người đang ăn mừng
thì anh ta bị sét đánh tử vong.
Bao Chửng nghe được câu chuyện này
trong lòng vô cùng phẫn nộ,
viết lên tấm bia mộ chàng trai
một câu đối đầy bi ai rằng
thà làm ác chứ làm thiện không lâu.
Sau đó, thái tử của nhà Tống chào đời,
khóc lóc thảm thiết,
tất cả ngự y đều bất lực.
Nhà vua yêu cầu Bao Chửng nghỉ cách.
Khi Bao Chửng nhìn thấy làn da trắng đỏ
như tuyết của đứa bé trên bàn tay non mềm,
còn có mấy chữ lờ mờ.
Sau khi cẩn thận xác định,
hóa ra đó là những chữ tự tay ông
đã viết lên bia mộ anh thanh niên lúc trước.
Bao Chửng hết sức ngỡ ngàng
và vội vàng lao đi.
Chữ viết biến mất trong nháy mắt,
đứa bé cũng ngừng khóc khi nhìn thấy Bao Chửng.
Sau đó, Bao Chửng hiểu được
số phận của chàng trai trẻ.
Hóa ra chàng trai trẻ này đã phạm
nhiều tội ác ở kiếp trước và mức độ rất nghiêm trọng,
cho nên phải chịu quả báo ba đời
mới có thể đền đáp hết tội lỗi của bản thân.
Theo an bài,
ở kiếp luân hồi thứ nhất anh ta
bị tàn phế và sống cuộc đời lang thang cô độc.
Ở kiếp luân hồi thứ hai
anh bị mù lòa nhưng thọ tới cuối đời.
Tới kiếp thứ ba
anh bị xét đánh phơi thay nơi đất hoang.
Vốn là một đứa trẻ nghèo
và tàn tật trong kiếp sống đầu tiên,
nhưng anh ta đã thay đổi quá khứ của mình
và chỉ muốn làm những điều tốt đẹp cho người khác.
Vì vậy, ông trời đã để anh ta
trả nghiệp của hai kiếp trong một kiếp,
khiến anh ta bị mù, nhưng kể cả như vậy
anh thanh niên vẫn không đổ lỗi cho người khác
mà âm thầm làm điều tốt cho người khác.
Chứ thần Phật đã lấy nghiệp của anh ta
từ kiếp thứ ba để trả cho kiếp đầu tiên.
Vì vậy, anh ta bị xét đánh chết cuối cùng
tại kiếp thứ ba.
Anh ta sẽ phải gánh chịu đau khổ
cho trọn ba kiếp.
Kiếp sau sẽ được an bài tái sinh và hoàn thất
hưởng phú quý vinh hoa vô tận.
Qua sự việc này, báo chứng cũng ngộ ra
rằng không nên chỉ nhìn vào bề nổi của vấn đề.
Nhưng quả báo ứng không thể thiếu.
Nhiều người thắc mắc
liệu thực sự có quả báo dành cho kẻ.
Tại sao chúng ta không thể thấy
quả báo dành cho kẻ?
Có câu nói rất hay,
không thấy không có nghĩa là không có.
Một số ác báo không phải là quả báo cho mình
mà còn là quả báo cho người thân
trong gia đình hoặc thế hệ tương lai.
Nếu như một người có thể bình an,
vui vẻ và khoan khoái sống mỗi ngày
thì người đó quả thực vô cùng may mắn.
Nhưng nếu muốn nghĩ cách thoát khỏi
những khổ đau và phiền não trong cuộc đời,
tìm cách sống vui vẻ, tự tại,
không núi tiết thì cũng không phải là điều quá khó.
Chỉ cần bạn tin tưởng vào nhân quả,
nhớ rằng kẻ câu thiện hữu thiện báo,
ác hữu ác báo,
đồng thời ghi nhớ một số việc nhất định
không được làm, gieo nhân lành ác gạt quả thiện.
Nhân quả trong đạo Phật dạy cho ta
phải có trách nhiệm trong từng ý nghĩ,
lời nói và hành động.
Nếu chúng ta không tin nhân quả,
ta sẽ sống vô ý thức, thiếu trách nhiệm,
chỉ biết tham lam ích kỷ
để làm tổn thương người khác.
Nhưng con người lại chỉ tới khi gặp
quả báo xấu mới than trời trách đất,
đổ thừa tại hoàn cảnh,
không chịu gieo nhân lành ngay nơi hiện tại.
Nhiều người đã phạm tội
nhưng chưa bị phát hiện,
bởi nhân xấu chưa kết thành quả,
thì họ vẫn ung dung hưởng thụ,
thẳng nhiên như người vô tội,
thậm chí còn phải bán lực nhân quả nữa.
Đến khi phước hết, họa đến,
chịu quả khổ đau không có ngày thôi dứt.
Quả nghiệp báo tốt xấu sẽ đến sớm
hay muộn tùy theo duyên.
Bây giờ ta chưa đau bệnh,
nhưng sau này sẽ bệnh,
rồi ta cảm nhận sự thống khổ của nó
mà có thể cảm thông.
Người đã bệnh khi hiểu được như vậy,
chúng ta sẽ thương mình và thương người khác.
Nhờ đó nghiệp khổ càng ngày càng
được giảm bớt và tiêu trừ.
Nếu chúng ta không hiểu,
thì cho dù có tốn hết bao nhiêu tiền của
và thời gian đi chùa để cầu khẩn,
vàng xin mong Phật Bồ Tát gia hộ cho mau hết bệnh
cũng chỉ là việc làm vô ích,
bởi đó là người chưa có niềm tin sâu sắc về nhân quả.
Chẳng thân Phật Bồ Tát nào
chứng cho lòng thành nửa với đó.
Quý vị thân mến,
chỉ có tấm lòng nhân hậu, biết thương yêu
thì bạn mới có thể nhìn thế giới và con người
bằng con mắt hiền lành của Đức Phật.
Khi đó, bạn sẽ luôn thấy được
sự chân thành, tốt bụng và vẻ đẹp
ẩn sâu của mọi vật,
bất kể khi nào và ở đâu trên thế gian này.
